1. Các loại danh nghiễn
Đá làm nghiên được tìm thấy tại nhiều nơi trên đất Trung Hoa nhưng đặc biệt nhất thì có Đoan nghiễn (端硯), Thiệp nghiễn (歙硯) và Thao Hà nghiễn (洮河硯). Duy nhất một loại nghiên không dùng đá trực tiếp từ thiên nhiên mà dùng bùn dưới lòng sông để tạo thành gọi là Trừng Nê nghiễn (澄泥硯). Đó là 4 loại danh nghiễn của Trung Hoa.
Ngoài ra cũng còn vô số nơi đá có thể làm nghiên nhưng ít người biết hơn và cũng không tốt bằng. Khi chiếc nghiên người ta sưu tầm không mấy ai còn dùng để mài mực, sự xấu tốt trong công dụng của nó càng khó phân biệt. Chiếc nghiên nay chỉ là một tác phẩm điêu khắc mà màu sắc, vân đá trở thành những đặc tính được quan tâm hơn cái dụng của phiến đá. Nhiều nghiên lớn, chạm trổ và thiết kế rất cầu kỳ, tuy đẹp nhưng sử dụng sẽ rất khó khăn, nhất là sau khi dùng xong lại phải rửa sạch thì thật nhiêu khê, có khi mang họa cho chủ nhân nếu vô tình vấp ngã.
Theo Liễu Tân Tường trong Trung Quốc nghiễn đài thu tàng vấn đáp thì hiện nay các loại danh nghiễn bị làm giả rất nhiều nhưng không phải vì thế mà những nghiên đó không có giá trị. Nghiên tốt bao gồm những đặc tính mịn màng nhỏ hạt, chắc chắn, dễ mài mực và không làm mòn bút (細膩溫潤,堅實,易發墨,不損毫). Ngoài ra nghiên tốt cũng ít hút nước nên mực không bị khô nhanh [1]. Nghiên vừa là một dụng cụ để mài mực, vừa là một vật đựng mực nên hai đặc tính “phát mặc” [dễ mài mực] và “bất tổn hào” [không mòn bút] được đề cao. Đó là chưa kể nghiên mực cũng là một vật trang trí nên vân đá, màu sắc, hộp đựng … lại càng cầu kỳ và việc bảo trì, sử dụng càng thêm phức tạp.
1.1. Đoan nghiễn (端硯)

Đoan nghiễn
(sưu tầm của tác giả)
Đoan nghiễn làm bằng đá Đoan Khê ở Triệu Khánh, Quảng Đông, vẫn được coi là loại đá tốt nhất để làm nghiên (群硯之首: quần nghiễn chi thủ). Triệu Khánh ngày xưa gọi là Đoan Châu nên nghiên có tên là Đoan nghiễn.
Theo lịch sử thì đá ở đây được khai thác để làm nghiên từ thời Đường. Nhiều ngôi mộ cổ khi khai quật đã tìm thấy Đoan nghiễn. Trong Vân lâm thạch phổ thời Tống đã cho biết văn nhân thích nghiên làm từ đá Đoan Khê, phân biệt ra bốn loại màu lấy từ hang động hay lòng suối [2]
Tính cho tới thời Thanh người ta đã tìm thấy khoảng 70 nơi ở Đoan Châu có đá làm nghiên nhưng chỉ có chừng 10 mỏ là được chú trọng nhiều, chẳng hạn như Long Nham, Thủy Nham, Khanh Tử Nham, Tuyên Đức Nham, Triều Thiên Nham, Tống Khanh, Mai Hoa Khanh, Ma Tử Khanh … Vì bị đào bới quá đà, kể từ năm 2000 chính quyền Triệu Khánh, Cao Yếu đã ra lệnh cấm không cho khai thác nữa.
Ngoài các đặc tính tế, nhị, ấu, nộn (mịn màng tươi nõn) mà người ta cho rằng là đặc điểm của đá Đoan Khê, đá ở đây còn nổi tiếng về vân đẹp, hoặc màu xanh, hoặc màu trắng, có khi màu xanh phơn phớt, hay đỏ … nhất là mắt đá thiên nhiên như cù dục nhãn (chim sáo), anh ca nhãn (chim vẹt), kê công nhãn (gà trống), liêu ca nhãn (chim di), tước nhãn (chim sẻ), miêu nhãn (mắt mèo), lục đậu nhãn (hạt đậu xanh) … Đá Đoan Khê không hút nước, mặt mịn nên chấm mực bút không mòn, mực mài ra tươi và nhuận nên văn nhân ai cũng ưa chuộng.
1.2. Thiệp nghiễn (歙硯)

Thiệp nghiễn
(sưu tầm của tác giả)
Thiệp nghiễn làm bằng đá ở Thiệp huyện, các vùng Kỳ Môn, Hưu Ninh, Y Huyện, Tích Khê, Vụ Nguyên … tỉnh An Huy, trong đó Vụ Nguyên có đá tốt nhất. Nghiên sản xuất ở đây được gọi là Thiệp nghiễn hay Long Vĩ nghiễn. Theo Thiệp nghiễn phổ của Hồng Cảnh Bá thời Tống, thì đời Khai Nguyên nhà Đường, có người thợ săn đuổi theo dã thú thấy trong núi có đá đẹp, lấy đem về tạc thành nghiên đem tặng cho châu lệnh. Châu lệnh rất thích nên cho người vào tìm, từ đó Thiệp nghiễn nổi danh.
Thiệp thạch có màu đen điểm sắc xanh, sắc vàng, nhiều khi có những vân dài gọi là la văn, mi tử văn.
La văn thường là hai màu đen và xanh chạy xen lẫn nhau như lụa (sa), được chia ra đặt tên đến hai chục loại như cổ tê la văn (văn đá như sừng tê), ngư tử la văn (văn đá hình trứng cá), ám tế la văn (văn đá mịn và mờ) … Những khối đá có la văn được coi là thượng phẩm.
Mi văn là những vạch hình như lông mày màu đen, là một biến chủng của la văn. Mi văn cũng lại chia thành nhiều loại như nhạn hồ văn, trường mi, đoản mi, khoát mi, lục đậu mi …
Ngoài la văn và mi văn, người ta còn ghi nhận những mạt vàng hay bạc lấp lánh như những vì sao đêm được gọi dưới tên kim tinh, kim vựng, ngân vựng.
Cũng như Đoan Nghiễn, Thiệp Nghiễn được đánh giá dưới 3 tiêu chuẩn, đó là chất đá săn chắc, văn lý tươi đẹp, sắc trạch màu xanh tro.
1.3. Thao Hà nghiễn (洮河硯)
Thao Hà nghiễn còn được gọi dưới một tên khác là Thao Châu lục thạch nghiễn hay Thao nghiễn vì dùng đá ở lòng sông Thao mà đục thành. Đá này lấy ở tỉnh Cam Túc tại khu tự trị người Tây Tạng, ngày xưa gọi là Thao Châu, thuộc huyện Trác Nê. Đá vùng này được dùng làm nghiên từ thời Đường – Tống, tùy theo loại đá mà phân ra thượng, trung và hạ phẩm.
Triệu Hi Hộc (趙希鵠) thời Tống viết trong Cổ nghiễn biện:
Ngoại trừ đá Đoan Khê và Thiệp ra, chỉ có đá màu xanh lục ở Thao Hà là được người phương bắc quí trọng. Xanh như lam, mịn như ngọc, phát mặc không kém gì Đoan Khê … Vì đá này nằm sâu dưới lòng sông sức người không thể tới được cho nên nếu có thì quí vô cùng.
Mễ Phất trong Nghiễn sử nói là vân đá (thủy ba) của Thao Hà nghiễn có những điểm đen gọi là tiên mặc điểm (湔墨點). Thao Hà nghiễn có ba màu chính là xanh lục, tía và vàng, mỗi màu lại chia ra thành nhiều loại như áp đầu lục (xanh biếc như đầu vịt), huyền phác (màu đen), huy lục, thúy lục, đạm lục, qua bì hoàng (vàng màu vỏ trái dưa), hổ bì hoàng, tử thạch, dương can hồng, âm dương thạch.
Về vân đá người ta cũng phân biệt các loại thủy ba (lượn như sóng nước), vân khí (như mây) và tùy theo hình dạng mà người thợ có thể tạo hình cho đẹp.
1.4. Trừng Nê nghiễn (澄泥硯)
Trừng Nê nghiễn là loại nghiên duy nhất không làm thẳng từ đá thiên nhiên mà làm từ bùn, khởi đầu từ thời Tấn và còn sớm hơn cả các loại Đoan nghiễn, Thiệp nghiễn.
Theo lịch sử, Trừng Nê nghiễn được làm từ thời Tây Hán, sang các thời Đường, Tống và đến thời Minh thì đạt đến cao điểm của loại nghiên này. Sang đến thời Thanh thì không hiểu vì lý do gì mà phương pháp chế tác loại nghiên này bị thất truyền. Người ta cho rằng truyền thống Trung Hoa chỉ dạy nghề cho con trai mà không cho con gái đã khiến cho kỹ thuật bị gián đoạn. Vua Càn Long đã tìm nhiều cách và tốn nhiều tiền để khôi phục lại kỹ thuật này nhưng không thành công. Vì đây là kỹ thuật làm đồ gốm nên đây cũng là một loại tác phẩm nặn tay không khác gì ấm tử sa, nhiều Trừng Nê nghiễn được bảo tồn từ rất xưa chứng tỏ loại nghiên này rất được coi trọng.
Theo các chuyên gia về nghiên thì thời Đường – Tống là thời kỳ việc chế tạo rất thuần thuộc và các loại Đoan nghiễn, Thiệp nghiễn chưa có nhiều nên người ta chuộng Trừng Nê nghiễn. Như trên đã đề cập, nghiên này làm bắng đất bùn lấy từ trầm tích dưới lòng sông. Trong Trân châu thuyền (珍珠船) thời Minh chép:
Người dân vùng huyện Phong giỏi chế tạo Trừng nghiễn, dùng vải gói bùn sông Phần để cả năm mới đem lên, khi nặn thành nghiên mới không hút nước.

Trừng Nê nghiễn
Như vậy đất để làm Trừng Nê nghiễn chính là lấy từ đáy sông Phần (Sơn Tây) nhưng vì thất truyền nên ngày nay không còn ai biết cách làm như thời cổ nữa. Hiện nay người ta làm như sau:
(1) Lấy bùn (採泥): Bùn lấy từ hạ lưu sông Phần, huyện Tân Giáng (新絳) là nơi địa thế bằng phẳng nên đất đá tích tụ lâu năm nên nguyên liệu lấy từ khu vực này đã quyết định phẩm chất của Trừng Nê nghiễn. Việc tìm kiếm nguyên liệu cần phải theo một số nguyên tắc:
– Bùn phải lấy từ đáy sông nơi chưa bị ô nhiễm hay khuấy động;
– Bùn phải mịn, không lẫn lộn những hạt sạn to, sau khi rây rồi còn giữ được độ dính cao;
– Đất phải thuần chất, không pha trộn nhiều loại khác nhau.
(2) Luyện bùn (澄泥): Bùn lấy về phải qua nhiều giai đoạn để sàng lọc và khô ráo vừa đủ trước khi được dùng để chế tạo nghiên. Sau khi cho vào máy đánh cho nhuyễn, người ta dùng vải để rây bùn hàng chục lần. Sau đó bùn được nhồi bằng tay và để trong bồn lớn với nước cho lóng xuống.
(3) Nung bùn (焙泥): Việc nung thành phẩm cần nhiều công đoạn, thêm thức này, bớt thứ khác khiến cho màu sắc, văn lý thay đổi. Về màu sắc Trừng Nê nghiễn có các màu vàng da lươn, xanh vỏ cua, xanh lá cây (hay xanh lá trà), đỏ chu sa, đỏ thẫm màu hoa hồng (còn gọi là đỏ đầu tôm), tía đàn hương …
So sánh nghiên bùn Trừng Nê với nghiên đá có ba đặc điểm:
– Trừng nghiễn do nung lửa mà thành nên lệ thuộc vào độ nóng và thời gian, vì thế vân nghiên đa dạng và nhiều màu;
– Vì là đất bùn luyện thành nên việc nặn nghiên, điêu khắc, tạo hình làm Trừng Nê nghiễn dễ dàng và linh họat, dễ có những đường nét tinh tế;
– Vì Trừng Nê nghiễn là do đất bùn nung thành nên cứng mà không dòn, sáng mà không bóng, mịn như ngọc khi gõ tiếng kêu như khánh, mài mực xong để lâu không hư và mùa hè nghiên không nóng, mùa đông không lạnh nên người ta cho rằng cũng ảnh hưởng đến thư pháp và nét vẽ của người dùng.
Tuy nhiên, kiếm được một chiếc Trừng Nê nghiễn cũng cam go vì hiện nay, theo nhu cầu thị trường, phần lớn những chiếc nghiên rao bán không hẳn là nghiên thật mà là đồ giả, có khi là nhựa cây đúc thành, có khi là loại đất bùn ở nơi khác hay những loại hoá chất rồi sau đó được tô điểm làm như đồ cũ.
1.5. Tùng Hoa nghiễn (松花硯)
Từ đời Khang Hi, Thanh triều có một cơ quan nằm ở phía tây của điện Thái Hòa trong Tử Cấm Thành tên là Tạo biện hoạt kế xứ (造辦活計處), nơi chuyên sản xuất và sửa chữa những đồ dùng cho triều đình đồng thời giữ sổ sách tồn kho, nhập kho của mọi loại vật phẩm. Tạo biện xứ bao gồm nhiều công xưởng (作: tác là xưởng làm việc) tức là những khu vực chỉ chuyên về một ngành chẳng hạn pháp lang, ngọc khí, sơn mài, vũ khí, bản đồ … Những chuyên ngành này lên dần đến con số 60 [3]. Xưởng làm nghiên cũng là một ngành tương đối quan trọng vì nghiên thường được hoàng đế dùng để ban thưởng.
Vua Khang Hi cũng được cho là người đã khám phá ra một loại đá mới để làm nghiên thêm vào những nơi danh tiếng cũ như Đoan Khê, Thiệp Châu. Vùng sản xuất ra loại đá này lại ở ngay trên quê hương người Mãn Châu, vùng Hắc Long Giang (Liêu Ninh ngày nay) được biết tới dưới cái tên Tùng Hoa, phẩm chất không kém gì Đoan Khê mà lại có màu xanh lục nhiều vân đẹp. Tây Thanh nghiễn phổ chép:
Tùng Hoa nghiễn bắt đầu có từ đời Khang Hi. Trần Nguyên Long nói là nơi sản sinh ra loại đá này ở đông bắc Trung Hoa, vùng sông Tùng Hoa là nơi có đá mài, chính là nơi phát tích ra nhà Thanh, thời đó vốn là nơi cấm địa không cho người lui tới nên chỉ có hoàng đế mới cho người đến khai thác mà thôi.
Tùng Hoa thạch có nhiều màu như vàng, xanh lục và màu tía, đá cứng mà giòn, màu sắc tươi nhuận. Người từ tác phường trong cung vua đến đây, theo từng tầng mà tìm màu tạc thành nghiên. Đời Càn Long, nghiên tàng trữ trong nội phủ rất nhiều màu cực kỳ đẹp mắt.

Trừng Nê hổ phục nghiễn
“Tây Thanh nghiễn phổ cổ nghiễn” tr. 32
2. Địa phương
Tuy sách vở đề cập nhiều đến bốn loại nghiên ở trên nhưng không phải đá nơi khác không thể làm nghiên. Nhiều vùng cũng có đá làm nghiên mà phẩm chất cũng có những đặc tính tương tự như cổ nhân tán tụng là chất đá nhẵn mịn, mài mực nhanh mà chấm mực không mòn bút, giữ nước không hút …
2.1. Hồng Ti nghiễn (紅絲硯)
Sản xuất ở huyện Ích Đô, tỉnh Sơn Đông, thời Đường Tống là Thanh Châu nên nghiên đá ở đây còn được gọi là Thanh Châu Hồng Ti nghiễn. Loại đá ở đây nay không còn nên Thanh Ti nghiễn rất hiếm. Đá làm nghiên màu đỏ, vân như tơ màu vàng, hoặc ngược lại, đá màu vàng có vân tơ màu đỏ. Loại đá này màu tươi, văn như sóng lượn.
Theo tác giả Liễu Tân Tường thì đá Thanh Châu mịn như mỡ, mực mài ra giống như có pha dầu, đen như sơn. Liễu Công Quyền thời Đường luận về nghiên rất coi trọng nghiên loại này, coi là đệ nhất. Từ thờiTống về sau nghiên Thanh Châu không còn được sản xuất nữa mãi đến cuối thời Mao Trạch Đông mới lại được khôi phục nhưng cũng không nhiều.
2.2. Trạ Khước nghiễn (苴却硯)
Tra Khước nghiễn dùng đá ở Tứ Xuyên, phía tây bờ sông Kim Sa (tên cũ là huyện Tra Khước) nên cũng còn gọi là Kim Sa nghiễn. Nghiên ở đây có từ đời Đồng Trị, đá màu tím đen nhưng cũng có những màu khác hiếm hơn. Thớ đá săn chắc, mịn mặt, nhiều hoa văn. Nghiên Tra Khước mài mực nhanh, sắc mực đen nhánh, không làm mòn bút. Đá sờ vào như da thịt con nít, hà hơi vào như có nước đọng, văn nhân rất ưa dùng.
Trong các loại nghiên của Trung Hoa, Tra Khước nghiễn có nhiều mắt lớn và tròn. Mắt nghiên thuộc loại cù dục nhãn, long nhãn, đan phong nhãn … mỗi nghiên có từ hàng chục đến hàng trăm mắt. Ngoài mắt nghiên, đá Tra Khước còn nhiều loại văn như thanh hoa, băng văn, vân văn, hoả tiêu, kim tinh, lục tiêu, ngọc đái tiêu, hoàng tiêu …
2.3. Dịch thủy nghiễn (易水硯)
Sản xuất ở Chung Nam Sơn, huyện Dịch tỉnh Hà Bắc. Trong sơn động có loại “Dịch thủy thạch” nên khi chế tạo nghiên gọi là Dịch thủy nghiễn. Người ta có câu “nam Đoan, bắc Dịch” nên Dịch thủy nghiễn được coi là tốt hạng nhất. Đá Dịch chắc và mịn, sắc tươi, tiếng gõ vào kêu thanh, cầm nặng tay nên tạo nghiên tốt. Có hai loại tử thuý thạch và ngọc đại thạch là tốt hơn cả. Hai loại này có màu vàng nhạt, ngấn và vân màu bích lục, tươi như màu xanh da trời còn màu tía thì lấp lánh như mỡ đông.
2.4. Thạch Thành nghiễn (石城硯)
Sản xuất ở núi Hoàng Thạch, xã Long Cương, huyện Thạch Thành, tỉnh Giang Tây. Tuy không ai dám khẳng định nhưng nhiều chuyên gia cho rằng đá ở đây được dùng để chế tạo nghiên từ thời Đường và phát triển vào thời Tống nhưng sang thời Thanh thì thất truyền. Mãi đến gần đây, sau khi Trung Quốc mở cửa và khôi phục lại một số ngành nghề, người ta mới tìm trở về đá Thạch Thành để làm nghiên.
Đá Thạch Thành có nhiều văn thiên nhiên, nhiều màu, trông như ráng chiều, đồi núi, có khi như thác nước từ cao đổ xuống nên những người ưa hội họa thường tán thưởng, gọi là “thạch họa” [bức vẽ trên đá], chẳng khác gì những bức tranh thủy mặc. Đá Thạch Thành là loại ngâm nước từ cổ đại nên mịn mặt, nhẵn nhụi như da thịt trẻ con, mài mực đen nhuận, chấm mực không mòn bút, mùa đông mực không kết băng.
2.5. La Văn nghiễn (羅文硯)
Sản xuất ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Giang Tây, đá có văn như tơ nên gọi là la văn. Từ thời Đường – Tống, nghiên la văn đã được tiến vào cung làm ngự phẩm. Theo Ngọc Sơn huyện chí thì “Năm Đại Lịch nguyên niên (766) đời Đường bắt đầu khai thác đá la văn”. Đỗ Oản (杜綰) trong Vân Lâm thạch phổ có viết: “Ở huyện Ngọc Sơn, Tín Châu, tại một làng có tên là Tân Hiền, dưới dòng suối có loại đá sắc xanh, gõ nghe kêu, dân vùng đó lấy về làm nghiên, mài mực rất tốt”. Đá thiên nhiên màu xanh da trời, nhẵn bóng, thuần chất, đôi chỗ có điểm vàng lấp lánh có nhiều loại văn như tế la, giác lãng, cổ tê, ngọc đái, loát ti … Thạch chất dày mịn, văn như sóng nước, bóng như ngọc, mài mực như dầu.
2.6. Truy nghiễn (淄硯)
Truy nghiễn còn gọi là kim tinh nghiễn, sản xuất ở vùng Truy Châu, tỉnh Sơn Đông thường có màu lục, vàng hay màu tím đỏ. Truy nghiễn có từ thời Đường, Tống, đá mịn như ngọc, cứng nhưng không trơ, dễ mài mực.
Về màu sắc và văn lý của Truy nghiễn, mỗi màu lại chia thành nhiều loại với tên rất thanh nhã như hà diệp lục, trúc can lục, giáp sơn hồng, tử vân, cám hồng, cám hoàng …, còn văn thì có trân châu, phỉ thuý, băng văn đông, kim ngân tinh … Chính vì sự phong phú và biến đổi tùy theo từng núi, từng hang nên Lục Du thời Tống trong Man Khê nghiễn minh (蠻溪硯銘) đã viết: “Long Vĩ chi quần, Truy Uẩn ngọc chi bá trọng dã” [4] (Ngọc trong rặng Long Vĩ thì núi Truy núi Uẩn ngang ngửa nhau). Trong Nghiễn lục (硯錄) cũng chép là: “Truy thạch khả dữ Đoan, Thiệp tương thượng hạ” [5] (Đá Truy cũng không kém gì đá Đoan, đá Thiệp).
2.7. Đà Ki nghiễn (砣磯硯)
Đà Ki nghiễn sản xuất từ đá ở dưới các suối tại đảo thuộc huyện Đà Ki, bồng Lai, Sơn Đông. Nghiên phẩm viết là: “Thời Tống người ta đã lấy đá Đà Ki đẽo thành nghiên, màu xanh đen, chất liệu chắc chắn và nhỏ hạt, mài mực rất tốt, nghiên nào có điểm vàng hay bông tuyết thì là loại tốt nhất, cực kỳ khó kiếm”.
Đá Đà Ki có chứa một lượng nhỏ đồng nên lấp lánh phát quang, sắc đá đen như sơn, hơi ngả qua màu tro, điểm từng chấm sáng như bầu trời không trăng, có nơi lại như bông tuyết nên được gọi là “tuyết lãng kim tinh nghiễn” [雪浪金星硯].
2.8. Từ Công nghiễn (徐公硯)
Sản xuất tại một thôn tên là Từ Công Điếm, huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông nên gọi là Từ Công nghiễn. Sách Lâm Nghi huyện chí có chép: “Từ Công điếm ở phía tây bắc huyện thành 75 dặm có đá làm nghiên được, hình thể vuông tròn không đều, bên cạnh có những núm vú nhỏ, không cần phải đẽo gọt nhiều mà vẫn đẹp, thuần phác ưa nhìn”. Các thư pháp gia nổi tiếng thời Đường như Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền đều coi trọng Từ Công nghiễn.
Từ Công nghiễn gõ vào tiếng kêu như khánh, sờ mịn như ngọc, mài mực sánh như dầu. Màu sắc cũng thay đổi, có đá xanh vỏ cua, màu lá trà, vàng da lươn, đỏ vỏ quýt … Người thợ thường theo hình thể thiên nhiên của cục đá mà đẽo gọt nên nghiên Từ Công có nhiều kiểu hình dáng lạ lùng.
2.9. Tử Kim nghiễn (紫金硯)
Sản xuất từ đá ở Bát Công sơn, tỉnh An Huy. Bát Công sơn trước đây có tên là Tử Kim sơn nên nghiên làm từ đá ở đây gọi là Tử Kim nghiễn. Vân Lâm thạch phổ thời Tống chép: “Đá Tử Kim sơn đào lên có màu tím, đẽo thành nghiên rất dễ mài mực, gõ nghe tiếng kêu …”.
Tử Kim nghiễn nhiều văn, màu sắc đẹp, ai cầm lên không muốn rời tay, Mễ Phất đã bảo “trên đời đây là nghiên hạng nhất, đến Đoan nghiễn, Thiệp nghiễn cũng không bằng” (人間弟一品,端、歙皆其下).
Về màu sắc thì đá Tử Kim có màu hồng, vàng, tía, xanh, đỏ thẫm, đen chia ra làm tử kim, ngư tử hồng, nguyệt bạch, hoàng kim đái, tử hoa đái, hoa ban, xanh vỏ cua, kim hoàng, bích ngọc, mặc ngọc … Trạng nguyên Vu Mẫn Trung thời Thanh viết trong Tây Thanh nghiễn phổ là “Tử Kim thạch được dùng làm nghiên từ đời Đường, nay hiếm có, rất ít lưu truyền”.
2.10. Yến Tử nghiễn (燕子硯)
Yến Tử nghiễn còn có tên là Đa Phúc nghiễn hay Hồng Phúc nghiễn, sản xuất ở Thái An tỉnh Sơn Đông bắt đầu có từ thời Minh. Trong đá này thường có các loại tam diệp trùng (trilobite, bọ ba thùy) hoá thạch vì vùng này là trầm tích hàng triệu năm trước. Người Trung Hoa dùng chữ bức [蝠] để chỉ loại động vật này nhưng cũng cùng với chữ bức trong chữ kép biển bức [蝙蝠] là con dơi, lại đồng âm với phúc là tốt lành. Tây Thanh nghiễn phổ xếp Yến Tử nghiễn vào hàng đầu những nghiên quí.
2.11. Ôn thạch nghiễn (温石硯)
Nghiên làm từ đá ở Ôn Tuyền, tỉnh Sơn Đông nên còn gọi là Ôn thạch, làm thành nghiên gọi là Ôn thạch nghiễn. Ôn thạch có màu tía, màu tro có mắt màu lục, lên đến bốn, năm tầng nhưng không đẹp như đá Đoan Khê. Đá cũng có nhiều văn như thanh hoa, yên chi vựng, chu ban, chu tuyến … Đá Ôn Tuyền vì nằm sâu dưới nước lâu năm nên thuộc loại nê thạch, mặt mịn, có điều thường chỉ làm được nghiên nhỏ, hiếm khi có nghiên to.
2.12. Ni Sơn nghiễn (尼山硯)
Sản xuất tại Khúc Phụ, Sơn Đông nơi Ni Sơn chính là quê hương của Khổng Tử. Theo Đại Thanh nhất thống chí thì: “Nghiên đá ở Ni Sơn, huyện Khúc Phụ, văn lý đẹp đẽ có thể gọi là nhã phẩm”.
Đá ở Ni Sơn có màu lam tro, hoặc màu vàng đất, vàng nghệ dùng làm nghiên lâu không mòn mà cũng không làm mòn bút. Trên mặt đá có nhiều văn hình như tùng châm, trúc diệp, lá cỏ hay hoa mai.
2.13. Điền Hoành nghiễn (田橫硯)
Sản xuất tại huyện Tức Mặc, tỉnh Sơn Đông trên một hòn đảo có tên là Điền Hoành. Theo Tức Mặc huyện chí đời Thanh thì: “Đá Điền Hoành chắc chắn, sắc đen như mực, ít khi có văn nhưng đôi khi có kim tinh, nếu đục thành nghiên thì mài mực cũng tốt”.
Đá Điền Hoành do cát màu đen lâu ngày tạo thành, do một mỏm nham thạch vươn ra ngoài biển chìm dưới nước nên đá ôn nhuận mà không khô, sớ nhặt và đen, khi soi lên ánh mặt trời thì có điểm lấp lánh. Đá Điền Hoành cũng cùng một loại như Ôn thạch vì chìm dưới biển nên khi nào thủy triều rút xuống mới lấy được.
2.14. Liêu nghiễn (遼硯)
Còn gọi là Liêu thạch nghiễn sản xuất từ tỉnh Liêu Ninh, thị trấn Bản Khê, cũng có người gọi là Thanh Tử Vân thạch, cũng là đá trầm tích. Liêu thạch có hai loại đỏ và xanh lục, nếu có thêm đường vân màu xanh gọi là “tuyến thạch”.
2.15. Ngũ Đài Sơn nghiễn (五台山硯)
Nghiên làm từ đá ở Ngũ Đài Sơn có tên là Văn Thạch nghiễn hay Đoàn nghiễn. Ngũ Đài Sơn thuộc tỉnh Sơn Tây, là một trong bốn thánh địa của Phật giáo Trung Hoa. Theo Ngũ Đài tân chí thời Thanh thì núi Đoàn Miếu còn có tên là Văn Sơn, có đá làm nghiên. Đá Ngũ Đài có năm màu xanh, tía, lục, tím và đen nhưng hai màu đen và lục là nhiều hơn cả.
2.16. Tử bào ngọc đái nghiễn (紫袍玊帶硯)
Gọi tên Tử bào ngọc đái (áo bào tía, đai ngọc) là vì loại đá này có hoa văn màu tím đỏ và chạy dài như đai ngọc. Loại đá này chỉ có ở núi Phạm Tịnh (梵凈) giao giới các huyện Giang Khẩu, Tùng Đào, Ấn Giang tỉnh Quí Châu, đá kết thành từng lớp trắng và tím nên thợ khéo cắt sao cho có thể tạc thành nghiên với hoa văn màu trắng trên nghiên đá màu tím đỏ.
Người Trung Hoa cho rằng màu tía là màu tượng trưng cho phú quí, màu trắng là màu cao thượng, thanh khiết nên loại nghiên này rất hiếm quí.
2.17. Gia Lăng giang nghiễn (嘉陵江硯)
Sản xuất ở Hợp Xuyên tỉnh Trùng Khánh, bắt đầu từ đời Minh. Lý Thực (李實) từng có thơ tán tụng như sau:
啟墨雲龍舞,運筆虎榜懸。
石膩堪如玉,工藝聖手傳。
貴似翰家客,四寶居一員。
Hạp bạn mao ốc tịch, Xảo công tạc thạch bàn.
Khải mặc vân long vũ, Vận bút hổ bảng huyền.
Thạch nhị kham như ngọc, Công nghệ thánh thủ truyền.
Quý tự hàn gia khách, Tứ bảo cư nhất viên.
Ở cạnh bờ sông nơi nhà cỏ vắng vẻ,
Khéo léo đục một khối đá.
Mực mài tựa như rồng trong mây,
Bút múa thì tên treo trên bảng hổ.
Đá mịn không khác gì ngọc,
Công khéo do thánh truyền lại.
Quí như khách bút mực,
Đây là một trong tứ bảo.
Đá Gia Lăng có màu đen, chắc chắn mịn màng như ngọc, mài mực nhanh, không làm mòn bút.
2.18. Kim Âm nghiễn (金音硯)
Sản xuất tại Trùng Khánh là một loại đá cứng, gõ nghe như tiếng kim loại nên có tên Kim Âm. Theo truyền thuyết thì Lý Bạch thời Đường là người phát hiện ra đặc tính này khi sống ở đây nên ông đã đem theo một ít cục đá rồi đục thành nghiên. Đá màu đen, làm nghiên có tính hút mực nên khi cần chỉ hà hơi có thể thành mực viết.
2.19. Qui Thạch nghiễn (龜石硯)
Đá có tại tỉnh Sơn Đông, nhiều màu sắc tạo thành nhiều lớp giống như thiết diện một cây gỗ, gọi là thạch tâm. Lõi đá có khi màu vàng, màu trắng, màu xanh … và thường được người thợ chọn như tâm điểm để mài mực. Qui thạch mịn và không hút nước, dễ mài nhưng không làm mòn bút, hiện nay rất khó tìm.
2.20. Kim Tinh nghiễn (金星硯)
Kim Tinh nghiễn còn được gọi là Hi Chi nghiễn hay Hữu Quân nghiễn, sản xuất tại Phí Huyện, tỉnh Sơn Đông, trên mặt đá có nhiều điểm vàng lóng lánh, khi đục thành nghiên thì trông như bầu trời đầy sao cho nên mới có tên là Kim Tinh. Nơi đây cũng là quê hương của thư thánh thời Tấn là Vương Hi Chi, theo truyền thuyết họ Vương dùng đá này làm nghiên nên người đời sau gọi là đá Hi Chi, nghiên Hi Chi. Tô Đông Pha đã từng ca ngợi: “Đá đen như sơn, mịn màng như ngọc, kim tinh khắp nơi, to thì bằng hạt đậu, dễ mài mực, gõ vào thì nghe như tiếng kim loại, làm nghiên thuộc hạng nhất”.
(còn nữa)
Nguyễn Duy Chính*
* California, Hoa Kỳ.
*Nguyễn Duy Chính: Nghiên mực (Kỳ 1)
……………………………….
[1] Nam Bang Văn Vật (2002), tr. 21, 37.
[2] Fang Jing Pei: Symbols and Rebuses in Chinese Art – Figures, Bugs, Beasts, and Flowers (Berkeley/Toronto: Ten Speed Press, 2004), tr. 63.
[3] Dorothy Ko, 13.
[4] 龍尾之群, 淄韞玊之伯仲也。
[5] 淄石可與端歙相上下。