
Tôi đang ngồi trong phòng làm việc nhỏ ở tầng sáu, nơi khung cửa kính hướng thẳng xuống sân ga Issy–Val de Seine bên kia. Buổi chiều Paris chỉ còn trải một lớp ánh sáng mỏng, không thật vàng, không thật xanh, chỉ đủ để đường rầy bạc song song loang nhẹ như hai sợi chỉ kéo về một nơi xa lắc. Dưới kia, dòng người qua lại hối hả : áo khoác tuy quấn chặt vẫn lay động trong gió, bánh xe va-li kĩu kịt lăn nhịp quen thuộc, những gương mặt lướt ngang mà không đọng lại thành ký ức. Phía xa nữa, những tòa cao ốc mới lại mọc lên thêm – dáng thẳng đứng, lạnh lùng – nhanh như nấm sau cơn mưa của thời đại số.
Người ta thường nói Paris là thành phố của ánh sáng. Nhưng ánh sáng nhìn từ tầng sáu không phải ánh sáng va vào mắt du khách, mà là ánh sáng của đời sống đang hối hả tự nhào nặn mình. Walter Benjamin từng gọi những đô thị lớn là nơi con người vừa ẩn mình, vừa lộ hình – một nghịch lý mà chỉ ai sống lâu ở đó mới thấm. Tôi nhìn xuống sân ga và chợt hiểu : tất cả những ánh mắt nhìn lướt qua ấy không cần biết tôi là ai, và cũng không thiếu tôi bao giờ.
Vậy mà giữa khung cảnh ấy, lòng tôi lại trôi ngược về nơi khác : về những buổi trưa hè Việt Nam rộn rã tiếng ve, mùi khói bếp tỏa ra sân nhà, con đường đất đỏ dẫn ra bờ sông phù sa đục. Có những buổi trưa hè mà ký ức tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng rao của người đàn ông bán bánh dạo, tiếng chuông leng keng rót vào nhau như những giọt thủy tinh lao xao. Có lần tôi chạy theo gọi với, trượt chân ngã xuống đất đỏ, đầu gối rướm máu, nhưng hôm đó tôi lại cười bắt kịp. Bây giờ nghĩ lại, có lẽ đó là lần cuối cùng trong đời tôi ngã mà không thấy đau.
Tôi sang Pháp lúc mười tuổi – đủ lớn để lưu giữ quê nhà đầy màu sắc nhà trong ký ức, nhưng cũng vẫn đủ nhỏ để Paris có thể nhào nặn phần còn lại.
Tôi còn nhớ buổi sáng cuối cùng ở Việt Nam. Bầu trời xanh đến mức bây giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy xót. Mẹ xếp đồ vào chiếc vali cũ, dặn tôi mang theo con gấu bông bị sứt tai của thằng em út lúc đó mới lên bốn tuổi. Nhưng điều tôi nhớ nhất không phải vali, cũng không phải sân bay, mà là bát cơm chan nước cá trê kho. Mùi vị của nó, đến tận bây giờ tôi vẫn không tìm lại được ở Paris. Có lẽ đó là ký ức đầu tiên của tôi về một thứ mất đi.
Triết gia Marcel Proust có nói : « Mùi vị có trí nhớ riêng của nó, bền bỉ hơn cả hình ảnh. » Có đúng vậy không ? Với tôi, điều ấy đúng! Tôi đã quên màu áo tôi mặc hôm ấy, quên cảm giác khi máy bay nghiêng cánh, nhưng mùi nước cá kho thì không nhầm được. Nó như một vết chỉ đỏ nối dấu nơi tâm hồn mình bắt đầu rời đi.
Dòng suy nghĩ ấy cứ trở về mỗi khi tôi nhìn xuống sân ga Issy–Val de Seine. Nhìn những người Pháp bước vội trong nhịp sống của họ, tôi bỗng nghe lại tiếng lê dép của má trên nền gạch buổi sáng. Nhìn ánh đèn của đoàn tàu RER xuyên qua màn chiều, tôi lại thấy ánh lấp lánh của những con diều giấy trong sân trường cũ. Paris mở rộng trước mắt, nhưng tuổi thơ Việt Nam thì chưa hề rời khỏi tôi.
Và cũng từ khung cửa kính này, tôi luôn nhớ rất rõ ngày đầu vào lớp ở Pháp : sân trường rộng đến mức tôi thấy mình lọt thỏm. Những đứa trẻ tóc vàng chạy nhảy, đùa giỡn ầm ĩ, còn tôi lại nép sát vào bức tường đá, chỉ mong cô giáo đừng gọi tên đọc to trước lớp. Tôi đã ước mình giống những đứa kia biết bao – nói tiếng Pháp thật tự nhiên như hít thở khí trời, gặm chiếc bánh mì kẹp thịt nguội mà không thấy ngượng nghịu, chạy nhảy trên sân đá mà không nghĩ đến đôi dép tổ ong để lại ở quê nhà.
Sau này, khi đọc về “stress d’acculturation” (căng thẳng tiếp biến văn hóa) tôi mới hiểu nỗi sợ ngày ấy không phải chỉ riêng mình. Trẻ di dân nào cũng mang những mảng tối : của ngôn ngữ chưa bắt kịp, của giọng nói khác biệt, của một quê hương bỗng trở thành minh chứng, âm hưởng lộ ra mỗi khi mở miệng thốt lời. Hôm đầu tiên, tôi phát âm sai chữ “grenouille” (con ếch), cả lớp bật cười vang. Khoảnh khắc ấy ngắn thôi, sự việc nhỏ thôi nhưng cũng đủ để sau đó tôi giấu tiếng mẹ đẻ vào sâu như giấu một bí mật không đáng khoe.
Khi ấy, nỗi sợ bị khác biệt khiến tôi chỉ muốn phai đi cái phần Việt Nam của mình. Một dạng “vọng ngoại” rất trẻ con, nhưng cũng rất thật. Tôi chỉ cần giống họ một chút thôi – tôi đã tin rằng mình sẽ thôi lạc lõng. Và chính từ cái ước muốn nhỏ bé ấy tôi hiểu ra rằng vọng ngoại đôi khi không bắt đầu từ sự yêu thích cái ngoại quốc, mà từ niềm khao khát được hòa vào thế giới đang cuộn mình trước mặt. Được giống số đông, để không bị nhìn như một dấu chấm lạc dòng.
Nhưng càng lớn, tôi càng hiểu Paris không phải câu chuyện lãng mạn của bưu thiếp : nó có tiếng tàu điện rít lên mỗi sáng, những ngày mưa dầm khiến lòng chùng xuống, những khu ngoại ô im lìm trong sương trắng đục. Paris đẹp, nhưng không đẹp theo cách người ta mường tượng. Và Việt Nam – dù tôi chỉ sống mười năm – lại mang vẻ đẹp không cần tô điểm : tiếng rao đêm, chén cơm chan nước cá kho, bầy chim sẻ trên dây điện trước nhà. Những điều tưởng nhỏ ấy, Paris không thể nào có.
Nhà văn Albert Camus viết : « Cái đẹp bao giờ cũng mang một vết nứt ». Paris có những vết nứt của nó – cơn mưa bất chợt khiến màu buổi sáng bầm tím, tiếng cãi cọ trên sân ga, những khu phố ngoại ô xám như vừa bước ra từ một bức tranh chưa hoàn tất. Việt Nam cũng có vết nứt của riêng mình. Nhưng kỳ lạ thay, chính những vết nứt ấy mới giữ ta lại với một nơi.
Từ đó, tôi dần nhận ra : vọng ngoại chỉ trở thành chiếc bóng đen lớn dần khi ta nhìn quê nhà bằng ánh mắt nghi ngờ, còn nhìn nơi khác thì với ánh mắt lý tưởng hóa.
Nhìn xuống sân ga Issy–Val de Seine, tôi thấy rõ một điều : Paris với người bản xứ chỉ là đời sống hằng ngày – không xa hoa, không mơ mộng. Vậy mà từ một nơi rất xa, người ta vẫn hướng về nó bằng ánh mắt ngưỡng vọng. Giống như cách mà, lúc còn nhỏ, khi mới qua Pháp, tôi đã hướng về thế giới này trong nỗi lo sợ mình dị biệt.
Có lẽ con người luôn khao khát điều mình thiếu. Người xa xứ khao khát được hòa nhập. Người ở quê nhà ao ước được bay xa. Người đi rồi thì nhớ về. Người đang ở thì lại muốn bước đi.
Thật ra, ai trong chúng ta chưa từng hướng mắt ra bên ngoài ? Con người luôn bị hấp dẫn bởi những gì mới mẻ, lạ lẫm, hay tiện nghi, tinh xảo hơn. Từ cái áo dài cách tân đến chiếc điện thoại đời mới, từ phim ảnh, ẩm thực cho đến lối sống – tất cả đều là sự chuyển động của thời đại. Không gì có thể đứng yên, như giớ vậy.
Thật ra, vọng ngoại không phải căn bệnh của riêng người Việt. Cuối thế kỷ XIX, giới trí thức Nhật cũng hùa nhau chạy theo để bắt kịp văn hóa Tây phương, đến mức sợ đánh mất linh hồn mình. Người Trung Hoa cuối đời nhà Thanh xem tiếng Anh như lối thoát. Và ngay tại Pháp, thập niên 1960, người ta ngưỡng mộ văn hóa Mỹ đến mê muội… Hóa ra, vọng ngoại chỉ là tên gọi khác của nỗi bất an muôn thuở : sợ mình không đủ.
Nhưng vọng ngoại chỉ trở thành cái bóng đè nặng khi ta không còn phân biệt được đâu là tiếp nhận, đâu là đánh mất. Khi một người chỉ thấy đẹp ở nơi xa mà coi thường chính mình, khi một xã hội chỉ miệt mài chạy theo mọi trào lưu ngoại nhập mà quên rằng giá trị thật nằm ở khả năng hòa hợp – mà không hòa tan – lúc ấy hai chữ “vọng ngoại” mới là thực sự nỗi lo.
Khác với hội nhập, vọng ngoại thiếu một điều rất nhỏ mà cũng rất lớn : tự tin.
Tự tin rằng văn hóa mình đủ sâu để đối thoại, đủ giàu để học hỏi, và đủ bền để đổi mới.
Vì thế, thay vì trách người vọng ngoại, có lẽ nên hỏi :
Ta đã kể câu chuyện của chính mình rõ ràng và hấp dẫn đến đâu?
Ta đã trân trọng những điều mình đang có đủ hay chưa?
Tôi nhìn sự tự tin văn hóa của Hàn Quốc ngày nay mà nghĩ : họ thành công không vì họ “Tây” hơn, mà vì họ biết giá trị của chính họ. Họ đưa pansori vào phim, đưa hanbok vào thời trang, đưa kimchi vào siêu thị quốc tế mà không mảy may mặc cảm. Khi một dân tộc biết mình như thế nào, họ không cần chạy theo ai nữa.
Đó chính là lúc vọng ngoại hóa thành hướng ngoại – một hướng mở, không phải để chạy theo, mà để soi chiếu, để từ thế giới rộng lớn lại tìm về cái gốc bên trong mình : sâu hơn, sáng hơn, vững vàng hơn.
Paris dạy tôi lý trí, nhịp sống, sự kiên nhẫn. Việt Nam dạy tôi cảm xúc, lòng nhớ thương, sự mềm yếu của tâm hồn. Tôi không cần chọn bên nào – cũng không thể chọn. Vì mỗi nơi giữ một phần cấu trúc con người tôi.
Judith Butler, triết gia người Mỹ, nói rằng bản sắc không phải một nền nhà cố định, mà là con đường ta liên tục bước đi. Tôi nhìn bóng mình phản chiếu – tranh tối tranh sáng – và hiểu rằng mình không cần chọn. Tôi chỉ cần đủ dịu để chấp nhận điều có nhiều quê hương trong cùng một cuộc đời, và mỗi quê hương tồn tại trong tôi qua ngôn ngữ riêng nó.
Bầu trời chiều dần tối. Một chuyến tàu lại băng ngang, ánh đèn vàng soi lên mặt kính cửa sổ. Tôi nhìn bóng mình phản chiếu – nửa Pháp, nửa Việt Nam – và nhận ra rằng hòa giải với bản thân có lẽ chính là câu trả lời cho hai chữ vọng ngoại.
Không phải để chạy theo.
Không phải để quên mình.
Mà để nhận ra ta là ai giữa hai khung trời.
Dưới sân ga Issy–Val de Seine, dòng người vẫn nối nhau trôi qua. Còn tôi, trong buổi chiều Paris buốt lạnh nhưng dịu dàng này, bỗng thấy lòng nhẹ như thể vừa khép lại một cuộc đối thoại dài :
Ta đang tìm điều gì ở cả hai miền đất?
Và điều gì – sau bao biến chuyển – vẫn ở lại trong ta, không hề phai?
Trúc Tiên