
Hình: Ansager, Đan Mạch, nguồn: Pixabay. Các nước Bắc Âu như Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan thường được đánh giá cao vì không chỉ thịnh vượng về kinh tế, xã hội ổn định, hài hòa, phúc lợi xã hội tốt, mà còn có một nền giáo dục và chính trị tự do, nhân bản (chú thích của TCTKM)
Ai cũng cần phải sống trong xã hội. Xã hội là môi trường nuôi dưỡng và phát triển con người. Những yếu tố tạo thành xã hội được gọi là “xã hội tự tính”, bao gồm:
- Sắc tính: yếu tố sinh lý, bản năng tính dục, duy trì nòi giống.
- Nhu yếu tính: nhu cầu sinh tồn, ăn, ở, mặc (rộng ra là kinh tế)…
- Xã hội tính: khả năng tổ chức, hợp tác, sống cộng đồng.
- Tự vệ tính: bảo vệ bản thân và xã hội; phụ thuộc vào xã hội tính.
Gọi là “xã hội tự tính” vì ở đâu xã hội cũng được thành lập dựa trên các yếu tính đó. Bốn tính này cấu thành “nhân tính” trong tương quan giữa cá nhân, xã hội, và tự nhiên, trở thành bản chất con người và là nền tảng của xã hội. Nhận ra được điều đó mới có thể thiết kế một xã hội phù hợp (social engineering) cho nhân loại.
Bốn yếu tố của nhân tính – sắc tính, nhu yếu tính, xã hội tính và tự vệ tính – nếu không được điều lý, đời sống loài người sẽ bị chi phối bởi bản năng không khác chi loài vật: đực cái giao phối lẫn lộn, tranh giành quyền lợi và đấu đá nhau không ngừng.
Vậy để “con người” ngày càng là người và tránh xa “con”, cần có những tiêu chuẩn cho các yếu tố tạo thành xã hội nói trên. Ba tiêu chuẩn đó là: Trinh, Bình và Hòa.
- Trinh (sự chung thủy vợ chồng) điều hòa sắc tính, biến bản năng tính dục đực-cái thành tình cảm có trách nhiệm và trung thực. Trinh giữa vợ chồng – lòng trung trinh song phương – giúp ổn định đời sống hôn nhân gia đình, là tế bào của xã hội. Mỗi tế bào ổn định, cả xã hội sẽ ổn định.
- Bình (công bằng, bình đẳng) điều hòa nhu yếu tính, bao gồm bình đẳng cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi. Nhờ Bình, nhu cầu vật chất được hướng thành hợp tác, không còn là tranh đoạt, giúp giảm khoảng cách giàu nghèo và tạo phát triển bền vững.
Ai cũng có nghĩa vụ đóng thuế và khi đủ tuổi, được hưởng quyền lợi qua việc đóng thuế đó (an sinh xã hội, chăm sóc y tế…). Tuy nhiên, nếu cơ hội không bình đẳng thì bình đẳng nghĩa vụ và quyền lợi không còn mấy ý nghĩa.
Hai người đều tốt nghiệp với mảnh bằng kỹ sư, nhưng người tốt nghiệp ở trường nổi tiếng thường có cơ hội được trả lương cao hơn và dễ thăng tiến hơn. Từ lúc khởi đầu vào đời, cơ hội của hai người đã khác nhau, dễ tạo ra cách biệt giàu nghèo sâu đậm sau này. Xã hội nên có giải pháp giúp giảm khoảng cách lương bổng một cách tương đối hợp lý.
Ở Mỹ, khi trả lương thì người ta dựa trên tài năng cá nhân, nhưng khi nộp đơn xin các phúc lợi xã hội, chính quyền lại căn cứ vào thu nhập của cả gia đình làm điều kiện tiên quyết. Vậy gia đình có nên là đơn vị kinh tế căn bản thay cho cá nhân?
Hai người có cùng khả năng nộp đơn cho một công việc, cả hai đều được nhận. Một trong hai người có vợ hai con, anh ta có nên được trả lương cao hơn người độc thân một chút để giúp duy trì đời sống và giảm cách biệt giàu nghèo, và trả cao hơn bao nhiêu được xem là hợp lý? Cũng vậy, lương giám đốc cao hơn bao nhiêu lần lương công nhân bình thường là hợp lý? Cần có sự thảo luận sâu rộng giữa giới chủ nhân, nghiệp đoàn, nhà đầu tư và các cơ quan liên hệ để tạo môi trường tương đối bình đẳng về cơ hội. Chúng ta sống là sống với người khác, đặc biệt với văn hóa Việt là văn hóa của đùm bọc, chia sẻ và yêu thương hơn là cạnh tranh hơn thua.
Người có nhiều cơ hội và phương tiện tài chánh dễ đầu tư vào thị trường chứng khoán, vàng bạc, địa ốc và có thể trở nên giàu có. Đặc biệt trong lãnh vực địa ốc, người khá giả có thể có hai, ba căn, thậm chí chục căn, hoặc như công ty Airbnb sở hữu rất nhiều nhà cửa cho thuê ngắn hạn tìm lợi nhuận cao khiến nhà cửa trở nên khan hiếm, đẩy giá nhà tăng cao mãi làm cho cơ hội sở hữu nhà ở của tầng lớp công nhân thợ thuyền và dân nghèo bị vuột khỏi tầm tay. Họ phải ở trọ có thể là suốt đời với tiền thuê chỉ tăng chứ không giảm, rất khó thăng tiến trên các nấc thang kinh tế.
Rồi chỉ người giàu có mới có tài sản để lại cho con cháu. Sau một vài thế hệ, tài sản ngày càng tập trung vào số ít và họ nằm trên đỉnh xã hội. Theo Kiplinger, 10% những người giàu nhất ở Mỹ kiểm soát tới 71.2% toàn bộ tài sản. Cách biệt giàu nghèo cao kết hợp với lòng tham dễ tạo ra những biến động kinh tế-chính trị lớn, đe dọa ngay cả những nền dân chủ lâu đời nhất. Chúng ta từng chứng kiến vụ nổ bong bóng dot com năm 2000; sự sụp đổ tài chánh Great Depression 2008; và phong trào Chiếm lĩnh (Occupy movement) “We are the 99%” năm 2011 của giới bình dân (Main Street) chống giới siêu giàu (Wall Street) tại Mỹ. Trên đây chỉ là một vài thí dụ điển hình, còn hàng trăm, hàng ngàn trường hợp khác khi suy nghĩ về bình đẳng cơ hội.
Phải nhìn nhận rằng kinh tế tư bản quả đã giúp nhiều người và nhiều quốc gia thoát khỏi nghèo khó; tuy nhiên, còn nhiều điểm cần được điều chỉnh để nhân loại ngày càng tiến hóa cao hơn.
- Hòa (hòa hợp) điều hòa xã hội tính. Dù lịch sử nhân loại đầy máu và nước mắt, nhưng loài người ai cũng muốn sống trong hòa bình thân ái. Hòa hướng con người tới tinh thần tương thân, chung sống và cùng tiến, coi người khác là cứu cánh xây dựng chứ không phải phương tiện vận dụng cho mục đích riêng tư.
Tự vệ tính không cần tiêu chuẩn riêng vì là phụ thuộc của xã hội tính: chức năng của tự vệ là bảo tồn cộng đồng chứ không phải gây hấn.
Ba nguyên tắc Trinh – Bình – Hòa hợp thành cốt lõi đạo lý của nhân tính, giúp bản năng tự nhiên trở nên có lý trí, có đạo đức và mang tính nhân bản (gốc người). Nhờ đó, tự do và bình đẳng nảy sinh từ việc điều lý bản năng chứ không phải kìm hãm chúng.
Vậy, xã hội là một tổ chức nhân tính nơi con người sinh sống, phát triển với nhau và bên nhau nhằm thực hiện phạm trù người, phát huy bản chất tốt đẹp của con người, bao gồm lòng nhân ái, sự công bằng, tính trung thực và trách nhiệm…, trong đó chính trị trở thành cơ cấu kiến trúc, tức cách thức tổ chức và quản lý xã hội bao gồm các quy định, luật lệ và chính sách; kinh tế là vật liệu kiến trúc, là nguồn lực và phương tiện để xây dựng xã hội bao gồm các hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu dùng; và văn hóa là nghệ thuật kiến trúc, là giá trị và tinh thần của xã hội bao gồm các truyền thống, phong tục và nghệ thuật. Chính trị, kinh tế, và văn hóa cần được thiết kế sao cho người ngày càng trở nên người, nuôi dưỡng và phát huy nhân tính, giúp mọi người tránh xa bản năng thú tính của động vật.
Từ góc nhìn trên, chính trị không phải là nơi tranh giành quyền lực, mà là yếu tố cần thiết để điều lý ba tiêu chuẩn trinh, bình, hòa của nhân tính nói trên thông qua giáo dục, giúp mọi người trở nên tốt và có ích cho xã hội. Cơ hội bình đẳng còn cho mỗi người cơ hội tham gia vào hệ thống chính trị quốc gia, không phân chia, loại bỏ hoặc thanh trừng nhằm tìm kiếm quyền lực cho mình hoặc cho phe nhóm.
Giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị. Thông qua giáo dục nhân bản, mọi người có thể học hỏi và phát triển các kỹ năng, kiến thức và giá trị cần thiết để sống và làm việc, xây dựng mối tương quan tốt đẹp giữa người với người, đồng thời hiểu được quyền và trách nhiệm của mình, không phải để tranh thắng hay nhằm đạt quyền lợi vật chất. Giáo dục còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hợp đồng xã hội (social contract) bằng cách giúp mỗi người hiểu và chấp nhận các quy tắc, giá trị và trách nhiệm. Giáo dục nhân bản cũng thúc đẩy sự hợp tác giữa cá thể và tập thể nhằm duy trì ổn định mà không cần sử dụng bạo lực khi mọi người đều tự giác và ý thức cao.
Lý tưởng tối hậu của xã hội là để thỏa mãn nhân tính, theo đuổi và thực hiện phạm trù người. Điều này có nghĩa chúng ta phải hướng tới việc phát triển và hoàn thiện bản thân, trở thành “người” thực sự, như một “kim cương thắng nhân” với những giá trị nhân văn cao đẹp.
Một cuộc đời đáng sống là một cuộc sống có danh dự và trí tuệ. Cuộc sống đó không chỉ là sự tồn tại, mà còn là chất lượng và giá trị của đời sống. Danh dự giúp chúng ta giữ gìn phẩm giá và tự trọng, trong khi trí tuệ giúp hiểu biết và phát triển bản thân. Khi mỗi người dân đều có danh dự và trí tuệ, họ sẽ có khả năng tham gia vào quá trình quyết định và đóng góp tích cực cho xã hội, tạo nên một xã hội công bằng, tự do và phát triển.
Giáo dục nhân bản đặt con người làm mục tiêu xây dựng sẽ tạo ra mẫu người lý tưởng, những người có đạo đức, có trí tuệ, có khả năng tự chủ và trách nhiệm với xã hội. Người này có thể là một nhà lãnh đạo chính trị, một doanh nhân, nhà giáo, nghệ sĩ, hoặc đơn giản là một người dân bình thường, nhưng có điểm chung là họ đều có khả năng đóng góp cho xã hội và tạo ra giá trị cho cuộc sống.
Đó là nền tảng của xã hội Dân chủ Nhân chủ (Humanocracy).
Để đạt được lý tưởng đó, mỗi người cần phát triển trí tuệ, hiểu biết về bản thân, xã hội và thế giới xung quanh; tu dưỡng đạo đức, tức rèn luyện lòng nhân ái, tính trung thực và trách nhiệm; đồng thời xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và cộng đồng.
Chúng ta cần điều chỉnh sai lầm lớn của xã hội hiện đại là tách rời chính trị và giáo dục thành hai hệ thống quản lý độc lập, không phối hợp được công việc (work) với quyền lợi (benefit) và trách nhiệm (responsibility) đối với cá thể lẫn tập thể.
Giáo dục và chính trị là hai yếu tố liên quan mật thiết với nhau. Giáo dục là quá trình truyền đạt kiến thức, giá trị và kỹ năng cho cá thể, trong khi chính trị là cách thức tổ chức và quản lý xã hội.
Sự tách rời giữa giáo dục và chính trị có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa hai hệ thống, gây ra sự phát triển không đồng bộ, thiếu hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Giáo dục và chính trị phải được xem là hai mặt của một thực thể, cần được phối hợp chặt chẽ giữa hai hệ thống để đạt mục tiêu chung là phát triển con người toàn diện.
Quốc gia là một cấu trúc quan trọng của xã hội, được tổ chức như một sinh mệnh với chính phủ là não bộ, điều hành, phối hợp và quản lý; cá thể là các tế bào, đóng vai trò thiết yếu trong hoạt động phát triển; và tập thể, cơ quan là các cơ phận, thực hiện những chức năng và vai trò khác nhau để duy trì sự sống vững mạnh của quốc gia.
Mỗi thành phần có vai trò và trách nhiệm riêng, nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là phát triển và thịnh vượng, xã hội hài hòa, không thể áp chế lẫn nhau hay tranh giành đảng phái hơn thua.
Giáo dục và chính trị nhân bản phải trở thành hai yếu tố quan trọng trong việc thiết kế xã hội thông qua điều lý ba tiêu chuẩn trinh, bình, hòa của nhân tính. Trinh, bình, hòa càng thể hiện sâu rộng bao nhiêu, xã hội càng ổn định vững vàng bấy nhiêu.
Bằng cách này, quốc gia mới có thể đạt được sự sống còn, tiếp nối và tiến hóa hướng thượng luôn mãi, trở nên một thể sống mạnh mẽ và phát triển ổn định.
Tạ Dzu