Nguyễn Duy Chính: Đông Y (東醫). Kỳ 2.

Tác giả: Nguyễn Duy Chính
Hình minh họa: AI.

Về nguyên do bệnh, triệu chứng và chẩn đoán, người xưa cũng gom góp được nhiều cả kinh nghiệm lẫn suy luận. Ðời Tấn có Vương Thúc Hòa (王叔和) viết Mạch Kinh

(脈經), kế thừa cơ sở Nạn Kinh (難經) [1], chia mạch ra làm 24 loại, lại tổng kết toàn bộ ý nghĩa của các loại chẩn. Các danh y đời sau như Cao Dương Sinh (高陽生), Thôi Tử Hư (崔紫虛), Lý Thời Trân (李時珍), Lý Sĩ Tài (李士材)… cũng bổ túc và đóng góp thêm về mạch học. Ðời Tùy có Sào Nguyên Phương (巢元方) soạn bộ Chư Bệnh Nguyên Hầu Luận (諸病源候論), chép hơn 1700 loại bệnh tật, kỹ lưỡng chi li các triệu chứng đủ cả về bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh, mẫn tính phản ứng … có so sánh và phê bình từng loại một. Ðời Tống có Trần Vô Trạch (陳無擇) viết Tam Nhân Cực Nhất Bệnh Chứng Phương Luận (三因極一病證方論), đưa ra ba loại nguyên nhân sinh bệnh tật là nguyên nhân từ bên ngoài (ngoại nhân), nguyên nhân từ bên trong (nội nhân) và không do bên ngoài hay bên trong. Tuy họ Trần chia ra làm ba loại nguyên nhân nhưng thực ra cũng đều là nguyên nhân từ bên ngoài cả.

Về phương pháp xem lưỡi để coi bệnh (舌診 – thiệt chẩn) phát triển tương đối trễ, chỉ mới bắt đầu từ đời Nguyên. Thời đó tuy đã có sách bàn về chẩn đoán lưỡi nhưng chưa thành thục. Cho đến khi các thuyết về ôn bệnh học phát triển, việc xem lưỡi mới trở thành quan trọng và ngày càng thêm kinh nghiệm góp vào. Sang đời Thanh, Diệp Thiên Sĩ (葉天士) viết Ôn Nhiệt Luận (溫熱論), trong đó tổng kết các phương pháp xem lưỡi, đã được Vương Mạnh Anh nhận định là “phương pháp vừa tinh (kỹ lưỡng) vừa tường (rõ ràng)”.

Về châm cứu học thì ngày nay còn bộ Châm Cứu Giáp Ất Kinh (針灸甲乙經) là kỳ cựu nhất, do Hoàng Phủ Mật (皇甫謐) đời Tấn theo những luận thuật về kinh lạc, huyệt vị, và phương pháp châm trong Nội Kinh, rồi sửa đổi, thêm thắt những kiến thức của đời đó mà soạn thành. Ðời Tống, Vương Duy Nhất (王惟一) tổng hợp lại tất cả những học thuật trong sách vở của người đi trước về châm cứu, thêm kinh nghiệm của chính mình, soạn thành cuốn Ðồng Nhân Thự Huyệt Châm Cứu Ðồ Kinh (銅人渝穴針灸圖經). Cuốn này thống nhất tất cả những khác biệt của mọi phái, kế thừa công trình của Hoàng Phủ Mật, là một công trình đáng kể trong ngành châm cứu học. Họ Vương cũng đúc hai người bằng đồng (đồng nhân), trên có ghi những huyệt đạo và khởi thủy phương pháp huấn luyện cho ngành này một cách có qui tắc. Ðời nhà Nguyên, Hoạt Bá Nhân (滑伯仁) theo thực tế mà nhận ra rằng hai mạch nhâm đốc trong kỳ kinh bát mạch có những huyệt riêng, nên xếp đồng đẳng với 12 kinh kia, viết thành cuốn Thập Tứ Kinh Phát Huy (十四經發揮). Ngày nay người ta vẫn gọi Thập Tứ Kinh (十四經) chính là khởi đầu từ lúc này. Thời Minh, Dương Kế Châu, tập hợp tất cả những công trình từ trước, thêm kinh nghiệm trị liệu của chính mình viết thành bộ Châm Cứu Ðại Thành. Bộ này nội dung hết sức phong phú, quả thực đáng gọi là đại thành và là một bộ sách tham khảo quí giá cho đời sau.

Về phương diện ngoại khoa, cứ như sử sách, cuối đời Ðông Hán, Hoa Ðà (華佗) đã sử dụng thuốc gây mê toàn thân để khoét mụn nhọt, mổ bụng, là tài liệu về phẫu thuật sớm nhất của nhân loại. Hoa Ðà là một y gia lỗi lạc, ông có sự hiểu biết toàn diện, bao gồm cả châm cứu, dược vật, chẩn đoán lâm sàng lẫn phương pháp tập luyện cơ thể. Thành tựu lớn nhất của ông thuộc phạm vi ngoại khoa, nhưng sách vở ông soạn bị hủy hết nên không còn lưu truyền. Bộ Trung Tàng Kinh (中藏經) của Hoa Ðà hiện lưu truyền là tài liệu người đời sau thác danh ông chứ không phải thật.

Về phương diện ngoại thương, các phương thuốc cổ nhất còn có được là những toa thuốc của Lưu Quyên Tử (劉涓子) do Cung Khánh Tuyên (龔慶宣) thu thập được. Sưu tập này bao gồm nhiềm loại thuốc rịt vết thương (kim sang), mụn nhọt, ngứa ngáy và các loại thuốc trị bệnh ngoài da, cầm máu, giảm đau, giải độc … dùng hoàng liên, hùng hoàng, thủy ngân là những vị dùng để tiêu độc, giảm sưng được chế thành cao dán chỗ đau. Ðời nhà Ðường, Lận đạo nhân soạn quyển Lý Thương Tục Ðoạn Bí Phương (理傷續斷秘方) là cuốn sách chuyên khoa trị gãy xương cổ nhất của Trung Quốc. Trong sách chỉ phương pháp để làm liền xương bị gãy, có ghi cả các hoạt động của từng loại khớp xương. Ðời Nguyên, Nguy Diệc Lâm (危亦林) soạn cuốn Thế Y Ðắc Hiệu Phương (世醫得效方), tổng kết tất cả các kinh nghiệm chữa ngoại thương, có cả phép trị gãy xương sống, so với những quốc gia khác đi trước cả năm sáu trăm năm. Ðời Minh có Trần Thực Công (陳實功) viết Ngoại Khoa Chính Tông (外科正宗), đời Thanh có Vương Hồng Tự (王洪緒) viết Ngoại Khoa Toàn Sinh Tập (外科全生集), một bên chủ trương ngoại trị, một bên chủ trương nội trị là hai phái chính yếu của Trung y trong ngoại khoa, đều có ảnh hưởng sâu rộng trong giới làm thuốc.

Tượng bằng ngà để thầy thuốc dùng khi khám phụ khoa

Về sản phụ khoa, Kim Quĩ Yếu Lược (金匱要略) đã có ba thiên đề cập đến chửa đẻ, sản hậu và các chứng tạp bệnh của phụ nữ. Ðến đời Ðường, Tôn Tư Mạc (孫思邈) lại càng đặt nặng phụ khoa, trong Thiên Kim Yếu Phương, phụ nhân phương đứng vào hàng đầu mặc dù không phải là sách chuyên về đàn bà. Cho đến nay sách chuyên môn về phụ khoa còn tồn tại có Cữu Ân (咎殷) soạn quyển Kinh Hiệu Sản Bảo (經效產寶) là xưa nhất, nhưng ảnh hưởng sâu rộng hơn cả lại là bộ Phụ Nhân Ðại Toàn Lương Phương (婦人大全方) của Trần Tự Minh (陳自明) đời Tống. Bộ này tổng hợp tất cả sách vở viết về phụ khoa từ trước, là một bộ sách chuyên môn có phương pháp và đầy đủ. Ðời Minh có Vương Khẳng Ðường (王肯堂) viết Nữ Khoa Chứng Trị Chuẩn Thằng (女科證治準繩) và Thông Hành (通行) viết Tế Âm Cương Mục (濟陰綱目) , Vạn Mật Trai (萬密齋) viết Vạn Thị Nữ Khoa (萬氏女科), rồi đời Thanh lại có Phó Sơn (傅山) soạn Phó Thanh Chủ Nữ Khoa (傅青主女科) đóng góp rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm cho cả bốn phương diện kinh (lý luận), đới (bệnh đàn bà), thai (mang bầu), sản (sinh nở).

Đứa trẻ lên đậu

Về bệnh trẻ con (nhi khoa), thời Ðường Tống còn lưu truyền đến nay là bộ Lô Tín Kinh (顱囟經), nhưng ảnh hưởng quan trọng lại là Tiểu Nhi Dược Chứng Trực Quyết (小兒藥證直訣) của Tiền Ất (錢乙) và Tiểu Nhi Ðậu Chẩn Phương Luận (小兒痘疹方論) của Trần Văn Trung (陳文中) đời Tống. Về thuốc men thì trước kia người ta chủ trương dùng những liều nhẹ (nhu nhuận) để chữa trẻ con nhưng về sau thì nhiều y gia lại chủ trương dùng thuốc ấm và bổ (ôn bổ) để trợ lực cho bệnh nhân đối kháng với bệnh tật. Về các loại thang thuốc (phương trị) thì thế kỷ thứ XVI về trước đã biết phương pháp tiếp chủng ngừa bệnh đậu mùa (tương tự việc chủng đậu của Tây y). Ðối với bốn chứng chẩn, đậu, kinh, cam là bốn loại bệnh thông thường của trẻ con, việc chẩn đoán và trị liệu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm qua nhiều triều đại. Ðời Minh có Vạn Mật Trai (萬密齋), đời Thanh có Hạ Vũ Chú (夏禹鑄), Trần Phục Chính (陳復正), Trang Tại Ðiền (莊在田) tất cả đều dày công nghiên cứu và phát huy những chứng bệnh của trẻ em.

Lược qua như thế chúng ta thấy y học của Trung Hoa tích lũy do kinh nghiệm, dần dần thoát ra được những phương pháp mê tín, thần quyền. Càng về sau, y gia càng có thêm những phát huy mới, đời nào cũng có những nhân tài nên Ðông y mỗi lúc một thêm phong phú. Thời cổ, do nhu cầu sinh hoạt và hoàn cảnh thiên nhiên, người ta đặt nặng trị liệu và phương dược ngoại thương nên những thành tựu ban đầu chú trọng về chữa trị bên ngoài. Ta thấy có Hoa Ðà và Thương Hàn Luận của Trương Trọng Cảnh đời Hán, đời Nguyên thì có Thế Y Ðắc Hiệu Phương của Nguy Diệc Lâm, đời Minh có Ôn Dịch Luận (溫疫論) của Ngô Hựu Khả (吳又可) đều là y học chữa trị những chứng bệnh thông thường mà quần chúng mắc phải.

Về phương diện phát triển, thoạt đầu y học và vu thuật (chữa bệnh theo lối trừ tà) chen lẫn với nhau. Thời đó, giới vu hích (tức pháp sư, đồng cốt) dùng bùa chú, cúng tế và tà thuật, là giai cấp được coi trọng nên thường xen lẫn pháp thuật với một số thuốc men, trị bệnh cho người. Chính y gia cũng bị ảnh hưởng của bọn thầy pháp nên y thuật thời đó cũng mang một số dấu vết của đồng cốt. Tuy nhiên càng ngày hai bên càng tách rời và những thầy thuốc chân chính như Biển Thước, Trương Trọng Cảnh đều chống lại bọn vu hích, không chấp nhận chữa bệnh bằng thần quyền. Xã hội càng phát triển, vị thế của y thuật càng lên cao.

Trong Hán Thư, Nghệ Văn Chí (藝文志), y học được gọi là phương kỹ (một kỹ thuật), chia làm bốn loại gồm y kinh (醫經 – phép lý giải và cơ sở luận đoán), kinh phương (經方 – các thang thuốc, dược thảo), phòng trung (房中 – phép giao tiếp nam nữ, thuật phòng the), và thần tiên (神仙 – phương pháp luyện đan, tu tiên, thuốc trường sinh). Hai loại đầu là y học nhưng hai loại sau mang tính chất huyền môn, phần lớn do bọn phương sĩ bịa đặt và phóng đại, nhiều khi tưởng tượng ra mà chưa được chứng nghiệm. Kiến thức và kinh nghiệm y dược được dùng vào việc tìm thuốc trường sinh, nên bên cạnh y dược học, lại thêm những phái luyện đan tu tiên, bào chế các loại dược vật và sinh ra nhiều môn ra khỏi hẳn ý nghĩa của y khoa. Trong lịch sử y học, các y gia chân chính luôn luôn phải đối phó với giới thuật sĩ, và chính vì sự cạnh tranh này mà hai bên đều cố gắng tìm tòi và sách vở về y thuật, phương thuật càng ngày càng nhiều. Chẳng hạn như trong dược vật học, Bản Thảo Cương Mục của Lý Thời Trân cũng đã phê phán các loại thảo mộc do giới luyện đan tu tiên như Cát Hồng (葛洪), Ðào Hoằng Cảnh (陶弘景) đưa vào, đem khoa học phân tích và loại trừ những loại thuốc men tà môn khiến cho ngành dược thảo của Trung Hoa có màu sắc khoa học hơn.

Thầy lang bắt mạch

Về phương diện lý luận, khi văn hóa Trung Hoa xoay quanh thuyết thiên nhân tương dữ, một số nho gia, đạo gia và phương sĩ đem luật âm dương ngũ hành vào dùng giải thích cơ thể con người khiến cho y học mất tính chất thực nghiệm mà trở thành thuần lý, lại mang tính chất thần bí, huyền hoặc. Nội Kinh đem trộn lẫn với hình nhi thượng học của Ðổng Trọng Thư khiến cho y học bị trói buộc trong mớ lý luận tối mù không tìm ra lối thoát. Phải đến đời Ðông Hán, nhà y học trứ danh Trương Trọng Cảnh trong tác phẩm Thương Hàn Tạp Bệnh Luận mới căn cứ trên kinh lạc, tạng phủ và kinh nghiệm chữa trị, chẩn đoán của ông phá vỡ được những lý giải huyền học vốn dĩ làm bế tắc y khoa Trung Hoa. Có thể nói, đây là một cuộc cách mạng lớn vì cho đến thời kỳ này, người ta vẫn tin rằng thuyết âm dương ngũ hành là một loại thánh thư mặc khải từ trời cao, một chìa khóa có thể mở được mọi loại cánh cửa nếu chịu suy ngẫm cho đến nơi đến chốn.

Một điều đáng nói là không phải riêng y khoa, nhiều ngành học khác cũng không ra ngoài thông lệ là trừu tượng hóa mà quên đi phần thực nghiệm nên đi quá trớn. Cụ thể nhất, học thuyết ngũ vận lục khí (gọi tắt là vận khí học thuyết), tin tưởng rằng có thể tính toán, ngày giờ, can chi để suy diễn ra nguyên nhân và phương pháp trị liệu bệnh tật, đến nay vẫn còn được nhiều người tin theo, coi như một trình độ cao của y học, dùng hình nhi thượng học để tìm đáp số cho hình nhi hạ. Những y gia có quan điểm khoa học hơn đều chống lại phương pháp này. Ðời Minh ta thấy có Mậu Trọng Thuần (繆仲淳) coi thuyết ngũ vận lục khí là hoang đường, không phải con đường chính đáng của y gia, những người nổi tiếng như Tần Việt Nhân (Biển Thước), Trương Trọng Cảnh, Hoa Ðà đều không nói gì đến số học.

Về dược học, từ đời Tống trở về sau, có nhiều học phái, học thuật chẳng hạn như Lưu Hà Gian (劉河間) (完素 – Hoàn Tố) chủ trương “Lục Khí đều do Hỏa hóa thành”, “Ngũ Chí đi đến cực độ đều sinh Hỏa” nên khi dùng thuốc lấy các vị có tính mát, tính hàn làm chủ, là đại biểu cho hàn lương phái, Trương Tử Hòa (張子和) thì đề xướng “Ðuổi được tà thì an được chính”, trị bệnh chủ trương làm sao ra mồ hôi, nôn, hay đại tiểu tiện là chủ yếu là đại biểu của công hạ phái [2], Lý Ðông Viên (李東垣) thì đề xuất “Thổ là mẹ của muôn loài”, trị bệnh lấy bổ tì vị là căn bản, là đại biểu cho bổ tì phái, Chu Ðan Khê (朱丹溪) (Chấn Hanh) cho là “con người thường thừa dương mà thiếu âm” nên trị bệnh lấy tư âm làm chính, đại biểu cho tư âm phái. Ðó là bốn phái chính trong việc chữa trị, người ta gọi là Tứ đại gia.

Nói chung thì cả bốn phái đều có chỗ đặc sắc riêng, cho rằng “toa thuốc cũ không chữa được bệnh mới (cổ phương bất năng trị kim bệnh)”, nên đưa ra được nhiều cách giải thích khác nhau khiến cho y học thêm phong phú. Chẳng hạn như hàn lương phái đã thay thế phương pháp trước đây trị cảm mạo từ tân ôn chuyển sang các vị tân lương là một chuyển biến quan trọng và thay đổi quan niệm về các chứng ôn bệnh, và phương pháp nhận bệnh cũng thêm độc đáo. Bổ tì về sau biến thành ôn bổ phái, những danh y như Triệu Dưỡng Quỳ (趙養葵), Trương Cảnh Nhạc (張景岳) đã đưa mệnh môn học thuyết, là cơ sở chính yếu về lý luận tạng phủ của y học Trung Hoa.

Phong khí học thuật đó ngày thêm phát triển, thêm tiến bộ. Ðời Minh, Ngô Hựu Khả (吳又可) đưa ra lý thuyết là nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm là do một loại khí có tên là “lệ khí”, không thuộc vào những loại cũ như phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa mà người xưa đã phân loại. Bệnh thuộc về loại này xâm nhập do miệng và mũi, không do bì phu (da dẻ) mà vào. Ðó cũng là một nhận thức mới mẻ so với thời trước, gần với Tây y hơn. Ðời Thanh, Vương Thanh Nhiệm (王清任) lại coi trọng việc giải phẫu, viết bộ Y Lâm Cải Thác (醫林改錯), đính chính lại những sai lầm của sách cũ về mặt mổ xẻ, đưa ra lý luận mới về các chứng ung sang, ứ huyết. Hai quan điểm đó tuy chỉ mới khái quát nhưng quả là một đóng góp có giá trị về phương diện thực tiễn cho khoa Ðông y.

Tuy nhiên, vì khoa học tự nhiên chưa phát triển, chưa có những phương tiện để nghiên cứu sâu xa hơn nên đông y bị ngừng lại tại đây mà không tiến vào khoa vi trùng học hay cơ thể học như Tây y được. Ngoài ra, chưa ai nghĩ đến y tế đại chúng và những vấn đề mang tính chất xã hội cũng không được nghiên cứu đến nơi đến chốn, khoa dinh dưỡng cũng chỉ hoàn toàn khái niệm chứ không cụ thể. Tuy Lý Ðông Viên có nhận định là việc ăn uống đói no thất thường có ảnh hưởng đến tì vị, nhất là làm việc quá độ sẽ gây ra nội thương, nhưng cũng chỉ đi đến kết luận “thổ là mẹ của vạn vật” (tì thuộc thổ), nên chữa các bệnh lao dịch phải dùng thuốc bổ tì, chứ không đưa ra những phương pháp ăn uống hay sinh hoạt nào sâu xa hơn, vẫn chỉ nằm trong một mớ lý luận trừu tượng, không thiết thực.

Còn “tư âm học thuyết” của Chu Ðan Khê tuy trên phương diện y học là tập hợp các sở trường của cả Lưu Khả Gian, Lý Ðông Viên nhưng lối lý luận “dương động âm tĩnh, con người dương thường có thừa mà âm không đủ” là mượn lối lý luận của Chu Hi (朱熹) trong hình nhi thượng học của Tống nho, nghĩa là cũng như nhiều ngành khác chỉ tưởng tượng mà không so sánh đối chiếu với thực tế, nhất là hoàn toàn không dựa trên phương pháp thống kê xã hội để hỗ trợ cho quan điểm của mình. Ðó cũng là một khuyết điểm chung của nhiều ngành Ðông phương học, thuần suy diễn mà thiếu hẳn phần thực nghiệm, thích đưa ra những khẳng định mà không đưa ra cơ sở nào để bảo chứng. Những ai nghiên cứu về phong thủy, tướng thuật, tử vi, tử bình đều thấy điểm này.

Chu Hi cho rằng thái cực là lý, có trước khi khí sinh ra, nên thái cực sinh âm dương, một động một tĩnh, tuần hoàn không ngừng, rồi từ đó sinh sinh hóa hóa ra ngũ hành, vạn vật. Chu Ðan Khê soạn bộ Cách Chí Dư Luận (格致餘論) cũng do quan điểm này mà ra. Chu Ðan Khê còn còn đem hiện tượng “âm hư dương kháng” trong y học để suy rộng ra xã hội, cho là lý luận “chủ hỏa” trong Nội Kinh cũng không khác gì quan điểm “ngũ tính cảm động” của phái lý học, “âm đạo hư” trong Nội Kinh cũng giống như “dưỡng âm” trong Lễ Ký. Nếu như con người phải hành động có chừng mực (động giai trúng tiết) thì cũng đó cũng là theo đạo “trung dung” của Khổng tử. Ông chủ trương tu tâm dưỡng tính, không nên “tương hỏa” nghĩa là vọng động, lại phải đem quan điểm “an thiên mệnh” áp dụng vào y học. Quan điểm này cũng có điểm hay gần giống như quan điểm sống cho phù hợp với thiên nhiên ngày nay, nhưng cũng đôi khi đi vào cổ hủ, câu nệ và cứng nhắc.

Từ đó trở đi, một thành phần y gia mới xưng là Nho Y, là những người học hành thất chí, không thành đạt chuyển sang làm nghề thuốc (不為良相便為良醫 – bất vi lương tướng, tiện vi lương y), đem phương pháp lý luận và nguyên tắc của nhà nho vào y khoa. Chính vì thế mà một số nhà nghiên cứu đã lên tiếng chỉ trích, vì những thầy thuốc nửa mùa này hoàn toàn không có kinh nghiệm chữa bệnh mà chỉ thuần túy dựa vào lý luận mà thôi. Họ còn đem quan điểm từ chương vào y học, tôn Nội Kinh và Thương Hàn Luận lên thành những “thánh kinh hiền truyền” coi đó là những chân lý tuyệt đối phải theo, không dám thay đổi một chữ một nét, những gì mới mẻ đều bị lên án là “ly kinh phản đạo” hay “dị đoan tà thuyết”, khiến cho y thuật Trung Hoa không thể tiến xa hơn được nữa. Không cứ gì ngành thuốc, nhiều ngành khác cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự và một đám hủ nho luôn luôn chống đối những gì khác với lối suy nghĩ của họ. Cái tệ nạn “duy ngã độc tôn” ấy không phải chỉ có ở Trung Hoa mà cho đến nay ở đâu cũng có người vẫn không chấp nhận một lối suy nghĩ khác với suy nghĩ của mình. Cho nên mặc dầu Tống nho đóng góp nhiều công lao cho việc xiển dương tư tưởng Nho gia, hậu thế vẫn lên án họ và những người theo đường lối của họ vì thái độ câu nệ và bài xích đó.

Chính vì sự phức tạp của nhiều môn phái và đường hướng trong y thuật Trung Hoa, hậu nhân cần phải phân biệt và tìm hiểu thêm, ấn chứng với tân học cũng như loại trừ những “cặn bã”, phần lớn không do kinh nghiệm và y án cụ thể mà chỉ thuần túy do lý luận mà ra. Mỗi môn phái đều có chỗ độc đáo, nhưng không môn phái nào giải quyết được mọi vấn đề và những người có quan niệm chín chắn bao giờ cũng tham bác nhiều phương pháp khác nhau cũng như phải dựa theo số liệu và khảo sát của phương pháp khoa học. Phái hàn lương cho ta phương pháp trị ngoại cảm, phái công hạ có những phương pháp trị cấp tính về đường ruột, mệnh môn học thuyết và thận âm thận dương, có thể áp dụng trong việc định bệnh liên quan đến các tuyến biến dưỡng và nội tiết.

Cho đến nay, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng một sự dung hợp hai đường lối Tây y và Ðông y có thể đem lại những kết quả tốt. Một số thảo mộc dùng trong Ðông y nay cũng đã thịnh hành ở Tây phương và nhiều môn như châm cứu, chỉ áp (ấn huyệt bằng ngón tay) đã được công nhận như những phương pháp trị liệu bổ túc. Một số hình thức dưỡng sinh của Ðông phương như nhập định (meditation), khí công, án ma (xoa bóp), Thái Cực Quyền … cũng được nhiều y gia nghiên cứu tìm tác dụng tích cực của những môn này trong sinh hoạt hàng ngày, để ngừa hay trị bệnh. Ngược lại, Ðông y cũng áp dụng những phương pháp đo lường, máy móc thử nghiệm mà Tây y vẫn dùng vào việc khám nghiệm để gia tăng hiệu năng và sự chính xác. Nhiều ngành trước đây phải đòi hỏi một thời gian thực hành lâu để có kinh nghiệm như thiệt chẩn (xem bệnh bằng lưỡi), thiết chẩn (xem mạch bằng cổ tay) đã được đo lường bằng máy móc và đem lại kết quả chính xác hơn lối cũ. Một số ngành mới tuy khởi nguyên từ Ðông y nhưng lại được khai triển và phát huy bằng kỹ thuật Tây phương như nhĩ châm (auriculotherapy), tức phương pháp châm vào các huyệt ở tai để trị bệnh. Châm cứu (acu-moxatherapy) cũng được dùng để trị một số bệnh sau khi được chẩn đoán bằng phương pháp Tây y. Tuy nhiên, cái gì cũng có giới hạn của nó và làm thế nào khai thác sao cho kết quả nhiều nhất bằng phương tiện ít nhất vẫn là một vấn đề, vì thực tế mỗi người phải tự tìm lấy con đường cho chính mình hơn là tuân theo những qui luật bất biến.

Trong những năm gần đây, tại Hoa Kỳ, một số đông người Mỹ đã quan tâm đến những phương pháp của Ðông phương và dùng vào việc trị bệnh bổ sung (alternative medicine) bên cạnh những phương pháp trị liệu của Tây y. Người Việt chúng ta dẫu sao cũng bị ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Hoa nên việc dung nạp không mấy khó khăn và thường gia đình nào cũng phối hợp cả thuốc tây và thuốc nam, thuốc bắc, cả nội khoa lẫn ngoại khoa, nhất là trong việc phòng và trị bệnh thông thường.

(còn nữa)

Nguyễn Duy Chính

…………………….

[1] tương truyền do Tần Việt Nhân (秦越人) tức Biển Thước (扁鵲) soạn ra

[2] phương pháp này gần giống như phép khử độc tố (detoxification) hay thanh tẩy cơ thể (purification) ngày nay.

*Nguyễn Duy Chính: Đông Y ( ). Kỳ 1.

Có thể bạn cũng quan tâm