
“Việt Nam lên kế hoạch chống Mỹ xâm lược lần thứ hai?” Có lẽ nhiều người trong chúng ta khi nghe đến điều này sẽ cảm thấy khó tin, tưởng như thể là fake news. Vậy mà nó lại là thật. Trong lời giới thiệu của tài liệu báo cáo có tên “Việt Nam lên kế hoạch chống Mỹ xâm lược lần thứ hai? Chính sách của Mỹ đang làm gia tăng căng thẳng và thúc đẩy đàn áp”, tác giả Ben Swanton, The Project88, viết rằng:
“Khi Việt Nam đang tổ chức kỷ niệm 50 năm ngày Sài Gòn giải phóng, các nhà hoạch định quân sự nước này lại tất bật chuẩn bị đối phó với khả năng Mỹ và đồng minh xâm lược lần thứ hai. Tài liệu hải quân Tối Mật của Việt Nam (Kế hoạch chống Mỹ xâm lược lần hai) mà Dự Án 88 có được cho thấy: Hà Nội không hề xem Mỹ là bạn bè ngang hàng với Trung Quốc hay Nga. Trái lại, họ coi Washington là một siêu cường hung hăng, với “bản chất hiếu chiến” (tr.6), sẵn sàng đánh chiếm bất kỳ nước nào ‘đi lệch quỹ đạo’ (tr.1). Bản kế hoạch viết rõ: Mặc dù hiện nay ít có nguy cơ xảy ra chiến tranh đối với Việt Nam. Tuy nhiên với bản chất hiếu chiến, ta cần cảnh giác đề phòng Mỹ và đồng minh có thể “tạo cớ” phát động chiến tranh xâm lược nước ta ở các quy mô khác nhau. Mỹ và đồng minh có thể triệt để lợi dụng đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên với vùng biển rộng và bờ biển trải dài của Việt Nam, phát huy sức mạnh vượt trội của Hải quân để tiến hành hoạt động quân sự tiến công vào nước ta (tr.6)” (hết trích)
Báo cáo cho biết, kế hoạch chống Mỹ xâm lược lần hai (357/KH-BTL) được Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng ban hành ngày 1/8/2024. Văn bản do Phó Đô đốc Trần Thanh Nghiêm ký và Chuẩn Đô đốc Vũ Văn Nam ký sao y chứng thực, mang đến cái nhìn sâu sắc nhất từ trước đến nay về cách Hà Nội suy nghĩ về cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung.
Báo cáo kết luận “Phân tích của Dự Án 88 về bản kế hoạch này làm rõ rằng chính sách an ninh quốc gia chưa từng công bố của Việt Nam dựa trên ít nhất bốn nguyên tắc cốt lõi: Mỹ là mối đe dọa, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là hình thức thống trị thuộc địa mới, việc thúc đẩy nhân quyền và dân chủ là âm mưu làm suy yếu ĐCSVN, và Việt Nam có số phận gắn bó với Trung Quốc” (hết trích) [1]
Chúng ta thấy gì từ kế hoạch này của Việt Nam?
Thứ nhất, Mỹ và phương Tây đã đánh giá sai hoàn toàn về Việt Nam. Trong nhiều năm, Hoa Kỳ và các nước dân chủ phương Tây tin rằng mối lo ngại lớn nhất về an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của Hà Nội là Bắc Kinh, xuất phát từ việc hai nước đã từng có quan hệ thăng trầm, không thực sự tin cậy nhau, thậm chí đã từng xảy ra cuộc chiến biên giới vào năm 1979, tiếng là kết thúc trong một tháng nhưng trên thực tế kéo dài đến tận năm 1988, Việt Nam đã bị mất quần đảo Hoàng Sa và một phần Trường Sa cũng như bị mất nhiều ngàn km lãnh thổ, nhiều ngàn dặm lãnh hải vào tay Trung Quốc qua các cuộc xâm lược của phía Trung Quốc cũng như các Hiệp định biên giới Việt–Trung 1990, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ 2000 v.v….
Mỹ và các nước dân chủ phương Tây luôn luôn mặc định rằng Hà Nội vì lo ngại chính sách bành trướng của Bắc Kinh nên mặc dù bên ngoài tránh hết sức làm mất lòng người láng giềng khổng lồ, nhưng bên trong luôn luôn mong muốn sự hiện diện của Washington trong khu vực châu Á Thái Bình Dương như một sự đối trọng, có khả năng răn đe Bắc Kinh v.v…Đặc biệt, nhìn từ bên ngoài ĐCSVN luôn tạo một chính sách mở cửa, thân thiện với Hoa Kỳ và các nước phương Tây, Hà Nội đã năng cấp quan hệ lên mức cao nhất là đối tác chiến lược toàn diện với Hoa Kỳ và một số quốc gia dân chủ v.v…Thậm chí Hoa Kỳ còn cho rằng có thể lôi kéo Việt Nam làm đối trọng với Trung Quốc, hoặc ít nhất, cũng không ngã hẳn vào vòng tay của Trung Quốc. Chính vì sự đánh giá sai lệch đó mà trong nhiều năm qua Hoa Kỳ và các nước dân chủ phương Tây đã làm ngơ hồ sơ nhân quyền tệ hại và bàn tay sắt trong chính sách đối nội xuyên suốt của Việt Nam, bất chấp những bản báo cáo, số liệu xếp hạng hàng năm và sự lên tiếng chỉ trích của các tổ chức xã hội dân sự, phi chính phủ như tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), Human Rights Watch, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF), tổ chức BPSOS v.v…
Hóa ra tất cả đều bị lừa. Hà Nội không phải đi dây, tìm cách cân bằng giữa hai bên mà thật ra Hả Nội đã chọn phe từ lâu (nhân tiện, Hoa Kỳ và đồng minh cũng có những nhận định sai lầm về các quốc gia độc tài khác như Nga, Trung Cộng…rằng chỉ cần làm ăn với nhau, các nước này khi kinh tế khá lên, hội nhập nhiều hơn với thế giới thì sẽ dân chủ hóa, trở thành những quốc gia thân thiện hơn, thực tế như thế nào chúng ta đã và đang chứng kiến)
Bản báo cáo viết “Sự chuyển đổi trong chính sách an ninh chế độ của Việt Nam không chỉ là việc vay mượn khái niệm. Thay vào đó, nó là một sự tái định hướng căn bản về thế giới quan chiến lược của Hà Nội, tiến gần hơn với Bắc Kinh. Sự tái định hướng này được hoàn tất khi Chủ tịch Tập Cận Bình thăm Hà Nội năm 2023, hai bên công bố hợp tác chia sẻ tình báo chính thức nhằm duy trì an ninh chế độ và ngăn chặn cách mạng màu tại cả hai nước – điều này nhấn mạnh rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và ĐCSVN coi số phận của mình gắn bó chặt chẽ với nhau. Việt Nam hoàn toàn không phải là bên thụ động tiếp nhận sự ve vãn của Trung Quốc, mà ngược lại đã chủ động tìm kiếm sự bảo hộ từ nước này. Một tài liệu quân sự mật tóm tắt về chuyến thăm của ông Tập mà Dự Án 88 tiếp cận được tiết lộ rằng chính Việt Nam đã đề xuất quan hệ đối tác chia sẻ tình báo này, chứ không phải Trung Quốc” (hết trích).
Chúng ta nhớ lại sự nhất quán trong chính sách của ĐCSVN, trước đây khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũ sụp đổ, thay vì chọn đi theo con đường dân chủ hóa, Hà Nội đã vội vàng quay lại xin được bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh sau thời gian hai bên xảy ra xung đột biên giới kéo dài, các lãnh đạo ĐCSVN khi đó đã chạy sang Bắc Kinh, níu lấy Bắc Kinh, để được giữ vững chế độ. Và vì thái độ quỵ lụy đó, Hà Nội đã phải trả giá bằng Hội nghị Thành Đô với những cam kết bất lợi mà người dân Việt Nam cho tới bây giờ cũng không được biết đó là những cam kết gì.
Thứ hai, người dân Việt Nam hầu hết cũng bị lừa. Từ trước đến giờ, không biết dựa vào đâu, hầu hết người Việt đều cho rằng trong nội bộ ĐCSVN có phe thân Tàu và phe thân phương Tây, nhưng hóa ra ĐCSVN chỉ có một phe, một con đường là thần phục Trung Cộng, giả sử có người nào nghĩ khác đi thì chắc chắn cũng sẽ bị loại trừ, không thể tồn tại lâu và leo cao trong đảng.
Thứ ba, một điều rõ ràng là cả đối nội lẫn đối ngoại, chính sách của ĐCSVN sẽ không thay đổi. Đối nội, không bao giờ có chuyện dân chủ hóa, chấp nhận đa nguyên đa đảng, những ai còn quan tâm đến vận mệnh, tương lai của đất nước, dân tộc cần phải hiểu rõ điều này để đừng hy vọng viển vông. Nếu như trước tháng 4/1975 mục tiêu lớn nhất của ĐCS là giành trọn quyền lực trên toàn cõi Việt Nam, dù có phải hy sinh hàng trăm ngàn, hàng triệu nhân mạng, dù đất nước hoang tàn, dù cuộc chiến có kéo dài bao lâu đi nữa; thì sau tháng 4/1975 mục tiêu lớn nhất của ĐCS là giữ quyền lực, dù bằng bàn tay sắt đến đâu với nhân dân và chấp nhận lệ thuộc đến đâu với Bắc Kinh. Đối ngoại, thế giới cứ tưởng Việt Nam mở cửa hay chí ít như cụm từ gần đây thường được một số nhà bình luận chính trị nhắc đến là chính sách “Mở ngoài – đóng trong” (Dual-track model), nhưng thực tế ĐCSVN cũng chỉ “mở” trên bề mặt mà thôi, còn phía sau họ đã chọn phe, và luôn luôn cảnh giác cao độ với Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ trên thế giới.
Tất cả cũng chỉ vì một nỗi ám ảnh sợ bị mất quyền lực, mất chế độ. Những cụm từ được lặp đi lặp lại thể hiện nỗi ám ảnh đó là “cách mạng màu”, “diễn biến hòa bình” mà Hà Nội tin là Mỹ và đồng minh đang tìm cách gây ra ở Việt Nam để lật đổ chế độ, xóa bỏ vai trò của ĐCSVN.
Từ sự thiếu niềm tin sẵn có, chính sách của Mỹ, đặc biệt dưới thời Tổng thống Trump, càng củng cố sự nghi ngờ của ĐCSVN.
Bản báo cáo về kế hoạch này của nhà nước CSVN cũng cho thấy cái nhìn rất khác giữa hầu hết người dân Việt Nam và ĐCS. Trong khi hầu hết người dân Việt Nam đều có một sự cảnh giác rất cao đối với Trung Cộng, coi Trung Cộng là mối đe dọa lớn nhất đến an ninh, toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải của Việt Nam (điều này là do vấn đề lịch sử từ hàng ngàn năm giữa hai nước cho tới những kinh nghiệm mất đất mất đảo sau này), thì ĐCSVN lại không nghĩ như vậy, mà với họ Trung Quốc chỉ là đối thủ, còn kẻ thù chính là Mỹ. Nên họ đã đề ra cả một kế hoạch công phu rằng Mỹ sẽ tấn công Việt Nam theo các kịch bản khác nhau như thế nào và Việt Nam phải chuẩn bị ra sao. Điều đáng nói là, theo như nhận xét của tác giả Ben Swanton trong bản báo cáo, quan điểm, ngôn ngữ và chính sách của ĐCSVN rất giống với quan điểm, ngôn ngữ và chính sách của ĐCS Trung Quốc, thể hiện qua Sách trắng quốc phòng mới nhất của Bắc Kinh – An ninh Quốc gia Trung Quốc trong Kỷ nguyên Mới.
Sự hoài nghi của ĐCSVN đối với Hoa Kỳ bắt nguồn từ ý thức hệ và sự quan sát trong thực tế, càng được củng cố qua lịch sử những cuộc can thiệp vào nội bộ nước khác của Mỹ, nhất là qua những chính sách bất nhất, hiếu chiến của chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump hiện nay. Hà Nội có thể nhìn thấy nước Mỹ dưới thời Trump có thể ứng xử ra sao với những quốc gia có mô hình thể chế mà Mỹ không ưa thích, từ Venezuela, Cuba, Iran…
Nhiều người có thể thắc mắc tại sao Hà Nội lại không có sự e ngại như vậy đối với Bắc Kinh. Chúng ta không thể biết được chính xác tại sao, có thể sự gắn bó lâu năm và sự xâm nhập rất sâu của Trung Cộng vào trong hệ thống chính trị của Việt Nam đã tạo ra những ảnh hưởng nhất định về mặt thế giới quan, phân loại bạn – thù? Đừng quên Việt Nam đã chấp nhận “cùng chung vận mệnh” với Trung Quốc. Cũng có thể cuộc chiến Nga xâm lược Ukraine càng khiến Hà Nội tự rút ra một bài học rằng ở bên cạnh nước lớn thì đừng tính chuyện rời xa khỏi vòng ảnh hưởng của nước lớn đó để hướng về các nước phương Tây, và cho rằng một khi Hà Nội “ngoan ngoãn”, không hề tỏ ra có ý định gì như vậy thì Trung Quốc sẽ để yên cho Việt Nam?
Kết luận dành cho những người Việt thực lòng quan tâm đến một tương lai tốt đẹp hơn cho Việt Nam
Đi kèm với bản báo cáo là các phụ lục của chính nhà nước CSVN như Phụ lục 1-Kế hoạch chống Mỹ xâm lược lần 2 (357/KH-BTL), Phụ lục 2-Báo cáo kết quả thực hiện đề án “Phòng ngừa, ngăn chặn cách mạng màu ở Việt Nam” từ tháng 4/2020 đến nay, Phụ lục 3-Báo cáo phản gián của Tổng cục Tình báo Quốc phòng, Phụ lục 4-Hướng dẫn thực hiện nghị quyết 28-NQ/TW, Phụ lục 5-Báo cáo hoạt động tác chiến không gian mạng. Qua đó cho thấy nhà nước CSVN đã “be bờ” kỹ mọi mặt, không để bất cứ cơ hội nào cho một “một cuộc cách mạng màu” có thể xảy ra ở Việt Nam. Không chỉ ở trong nước mà còn ngăn chặn từ xa qua chính sách đàn áp xuyên quốc gia [2]
Không rõ Hoa Kỳ và các nước dân chủ phương Tây nếu đọc được những “kế hoạch”, tài liệu như thế này của nhà nước cộng sản Việt Nam thì liệu họ có thay đổi gì về mặt quan điểm, chính sách với Việt Nam hay không; nhưng còn người Việt Nam thì nên từ bỏ mọi hy vọng về sự thay đổi theo hướng dân chủ hóa từ phía ĐCS hay mọi cơ hội đối thoại thẳng thắn với đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Sự thay đổi đó phải đến từ chính sức ép của người dân và những cuộc “đối thoại” chỉ có thể diễn ra khi ĐCSVN buộc phải chấp nhận mà không có cách nào khác, thế thôi.
Nhật Hiên
…………..
[1] Đọc bản báo cáo tiếng Việt của Ben Swanton ở đây:
https://the88project.org/wp-content/uploads/2026/02/P88-Plan-prevent-a-2nd-US-invasion-VNM.pdf
Và bản tiếng Anh:
[2] Nhật Hiên: Việt Nam: Chính sách đàn áp xuyên quốc gia