
Trên Tạp Chí Thế Kỷ Mới, TS. Nguyễn Xuân Nghĩa lập luận rằng sau Đại hội XIV, sự kết hợp giữa tập trung quyền lực chính trị ở mức rất cao với mục tiêu tăng trưởng kinh tế “siêu tham vọng” đã tạo ra một “cú sốc thể chế” đặc biệt. Cú sốc này không bùng nổ thành khủng hoảng tức thời mà âm thầm làm lệch nhịp vận hành của hệ thống đảng – nhà nước – xã hội, rồi lan sang thị trường thông qua các kênh như kỳ vọng tăng trưởng bị lý tưởng hóa, tái định nghĩa rủi ro, cá nhân hóa trách nhiệm tăng trưởng vào người đứng đầu để gia cố tính chính danh cá nhân, ưu tiên chi tiêu công và các siêu dự án, nâng đỡ một số “tập đoàn trụ cột” tư nhân, và bào mòn niềm tin dài hạn của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Kết quả là một thị trường vốn đã bị định hướng cho mục đích chính trị lại càng khó có thể vận hành chủ yếu theo logic hiệu quả – lợi nhuận, mà buộc phải vận hành theo logic phòng vệ trước rủi ro chính trị; vốn chảy vào tài sản, đất đai, các dự án “đúng định hướng” hơn là vào đổi mới công nghệ hay cải cách quản trị.
Ở tầng sâu hơn, ông cảnh báo rằng mối quan hệ giữa thể chế và thị trường đang bị đảo chiều: thay vì thể chế tạo không gian ổn định, có thể dự đoán để thị trường phát triển, ngày càng thấy thị trường phải uốn mình thích nghi với một bộ máy quyền lực vận hành theo nhịp chiến dịch, ưu tiên thành tích ngắn hạn và tính chính danh chính trị. Vì vậy, câu hỏi không chỉ là có đạt 10% tăng trưởng trong vài năm hay không, mà là nếu cú sốc thể chế này kéo dài, nền kinh tế sẽ trở nên mong manh, co cụm, ưa an toàn hơn sáng tạo, trong khi dư địa “sửa sai” bị thu hẹp dần, đặc biệt trong bối cảnh dân số già hóa nhanh.
Bài này sử dụng những dữ liệu được tổng hợp một cách rộng và hệ thống nhất có thể để chứng minh rằng cú sốc thể chế mà TS. Nghĩa phân tích không chỉ là một hiện tượng trừu tượng trên bình diện kinh tế – thể chế, mà khi được soi chiếu qua các lựa chọn nhân sự cụ thể và những thực hành quản trị hằng ngày của trung tâm quyền lực, bức tranh hiện ra còn rộng, tối và nguy hiểm hơn nhiều so với khung phân tích trong bài.
1. Sẵn sàng sử dụng bạo lực sát thương với dân thường
Trường hợp Đồng Tâm đầu năm 2020 là một lát cắt cho thấy mức độ sẵn sàng sử dụng bạo lực sát thương của nhà nước đối với dân thường khi lợi ích và uy quyền của bộ máy bị thách thức. Chiến dịch huy động lực lượng vũ trang quy mô lớn trong đêm, dẫn tới ba công an và một người dân thiệt mạng, tiếp nối bằng một phiên tòa kết án nặng nề những nông dân khiếu kiện đất đai, diễn ra trong bối cảnh thông tin một chiều và vô hiệu hóa mọi kênh đối thoại, hòa giải. Thay vì giải quyết tranh chấp đất đai bằng cơ chế pháp lý minh bạch và thương lượng để tạo đồng thuận, quyền lực công an – quân đội được ưu tiên như công cụ “giải quyết vấn đề”, gửi đi thông điệp răn đe đối với các cộng đồng khác có xung đột tương tự. Ở cấp độ thể chế, Đồng Tâm cho thấy “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa mô tả không chỉ nằm ở những lệch lạc vĩ mô trừu tượng, mà đã được hiện thân thành một cơ chế quản trị coi việc dùng vũ lực với dân thường là giải pháp chấp nhận được trong kho công cụ điều hành của trung tâm quyền lực.
2. Cán bộ an ninh ở lõi trung tâm quyền lực
Sau Đại hội XIV, một đặc điểm nổi bật của trung tâm quyền lực là vai trò áp đảo của các nhân vật xuất thân từ ngành công an trong bộ máy lãnh đạo cao nhất: tổng bí thư là một tướng công an kỳ cựu, cùng với mạng lưới cán bộ an ninh giữ những vị trí then chốt trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các ban đảng chủ chốt. Điều này khiến logic an ninh – trật tự, vốn trước đây chủ yếu chi phối các lĩnh vực “nhạy cảm”, nay thẩm thấu sâu vào các quyết định về nhân sự, kinh tế và đối ngoại: từ quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, kiểm soát thông tin đến định hướng chính sách phát triển đều được soi chiếu qua lăng kính “nguy cơ”, “ổn định” và “thế lực thù địch”. Nói cách khác, trung tâm quyền lực không chỉ được bảo vệ bởi bộ máy an ninh, mà bản thân nó đã mang hình hài của một “nhà nước an ninh”, nơi tư duy trấn áp và phòng ngừa rủi ro chính trị chi phối cách thiết kế và vận hành toàn bộ hệ thống. Chính sự an ninh hóa này là một trong những kênh cụ thể qua đó “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa cảnh báo được truyền thẳng vào thị trường và xã hội, làm méo mó cả kỳ vọng lẫn hành vi của các tác nhân kinh tế.
3. “Vừa chạy vừa sắp hàng” như nguyên tắc vận hành
Trong vận hành thực tế của bộ máy hiện nay, “vừa chạy vừa sắp hàng” đã trở thành một nguyên tắc ngầm: các chiến dịch chính trị, chương trình kinh tế, cải cách tổ chức thường được tung ra trước, rồi sau đó thể chế, bộ máy và quy trình mới được điều chỉnh dần dần cho khớp. Những đợt sắp xếp, nhập – tách cơ quan, thí điểm mô hình mới, ban hành quy định rồi liên tục sửa đổi, hướng dẫn bổ sung… khiến cán bộ bên dưới, doanh nghiệp và xã hội phải liên tục dò đoán “ưu tiên mới” thay vì dựa vào một khung luật lệ ổn định. Trên thực tế, kiểu vận hành này làm cho mục tiêu và công cụ luôn trong trạng thái “tạm bợ”, buộc thị trường và xã hội phải uốn mình theo các nhịp chiến dịch ngắn hạn của trung tâm quyền lực, qua đó hiện thân rất cụ thể cho “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa mô tả: luật chơi không ngừng xê dịch theo ý chí chính trị, thay vì được thiết kế để tạo không gian dự đoán được cho các chủ thể kinh tế – xã hội.
4. “Sắp xếp lại giang sơn” không qua tham gia của dân
Một trục vận hành khác của trung tâm quyền lực là các quyết định “sắp xếp lại giang sơn” – từ quy hoạch, nhập tách đơn vị hành chính, đến cải tổ bộ máy đảng – nhà nước – đều được thiết kế, thương lượng và thông qua gần như hoàn toàn trong nội bộ đảng, với rất ít minh bạch và hầu như không có tham vấn thực chất với các cộng đồng bị tác động. Các quyết định thay đổi địa giới, mô hình chính quyền, cấu trúc các ban bệ thường được trình bày như những biện pháp kỹ thuật để “tinh gọn, hiệu quả”, trong khi tiêu chí, bằng chứng và hệ quả phân phối quyền lực lại không được công khai để xã hội giám sát hoặc góp ý. Ở tầng thể chế, cách “sắp xếp lại giang sơn” như vậy củng cố một mô hình cai trị trong đó xã hội là đối tượng bị tái cấu trúc chứ không phải chủ thể tham gia định hình thể chế, làm sâu thêm cú sốc mà TS. Nghĩa mô tả: thay vì tạo không gian ổn định và có tính dự đoán cho thị trường và công dân, thể chế được vận dụng như công cụ tái phân bổ quyền lực từ trên xuống theo nhịp ưu tiên ngắn hạn của trung tâm.
5. Lựa chọn các “chaebol” tư nhân với năng lực đáng ngờ
Sau Đại hội XIV, trung tâm quyền lực chủ trương xây dựng khoảng 20 “tập đoàn tư nhân trụ cột” có khả năng cạnh tranh toàn cầu vào năm 2030, theo mô hình “những vô địch quốc gia” được nhà nước ưu ái mạnh mẽ về tiếp cận đất đai, tín dụng, dự án và quan hệ đối ngoại, gợi nhớ đến mô hình chaebol Hàn Quốc nhưng trong bối cảnh pháp lý và giám sát yếu hơn rất nhiều. Trong thực tế, những vụ như Vạn Thịnh Phát – SCB cho thấy một số “tập đoàn” từng được dung dưỡng và hỗ trợ đặc biệt lại vận hành trên nền tảng tài chính mong manh, thậm chí cấu trúc lừa đảo có hệ thống, để lại những khoản thâm hụt khổng lồ và hàng loạt dự án dang dở khi bị phanh phui. Việc chọn mặt gửi vàng vào một nhóm ít ỏi doanh nghiệp thân hữu, thiếu cơ chế giám sát độc lập và minh bạch, biến chiến lược “chaebol hóa” này thành một kênh cụ thể mà “cú sốc thể chế” thấm vào cấu trúc kinh tế: thay vì tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho khu vực tư nhân rộng lớn, thể chế được uốn theo nhu cầu bảo trợ và cứu nguy những tập đoàn được lựa chọn chính trị, làm méo mó phân bổ nguồn lực và gia tăng rủi ro hệ thống.
6. Đẩy nhanh siêu dự án và thay đổi pháp lý mà thiếu tham vấn chuyên gia
Trong những năm gần đây, trung tâm quyền lực nhiều lần thúc đẩy các quyết định mang tính “siêu dự án” hoặc chuyển đổi chính sách lớn với khung thời gian cực ngắn, trong khi cơ chế tham vấn chuyên gia độc lập và đánh giá tác động còn rất hạn chế. Việc Hà Nội và trung ương thúc đẩy lệnh cấm xe máy xăng trong khu vực nội đô từ 2026 là ví dụ điển hình: các chuyên gia giao thông và giới học thuật nhiều lần cảnh báo về tác động tới sinh kế, hạ tầng giao thông công cộng và tính khả thi thực thi, trong khi phía Nhật Bản và các hãng xe máy lớn lên tiếng lo ngại về nguy cơ mất việc làm hàng loạt và đứt gãy chuỗi cung ứng nếu lệnh cấm được áp dụng đột ngột, đề nghị một lộ trình dần dần, có chuẩn bị. Ở lĩnh vực năng lượng, việc Việt Nam phục hồi chương trình điện hạt nhân với mốc thời gian gấp gáp đã khiến Nhật Bản quyết định rút khỏi dự án Ninh Thuận 2 vì cho rằng khung thời gian hoàn thành là “quá gấp”, trong bối cảnh khuôn khổ pháp lý và năng lực quản trị an toàn hạt nhân vẫn còn nhiều dấu hỏi. Những quyết định lớn như vậy, được dẫn dắt chủ yếu bởi ưu tiên chính trị và nhu cầu thể hiện thành tích nhanh, cho thấy “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa cảnh báo đang được chuyển hóa thành một phong cách điều hành kiểu chiến dịch: siêu dự án và thay đổi pháp lý lớn được đẩy đi trước, còn năng lực thể chế, chuyên môn và hạ tầng thì chạy theo sau, buộc thị trường và xã hội phải gánh rủi ro.
7. Triệt phá bất đồng chính kiến, xã hội dân sự và thảo luận trực tuyến
Trong khoảng 10 năm qua, chính quyền đã chuyển từ mô hình chủ yếu nhắm vào một số nhà hoạt động nổi bật sang trấn áp có hệ thống, vươn tới cả những người dân thường chỉ đăng bài phàn nàn về chính sách, dịch vụ công hay lạm quyền của công an, thông qua việc lạm dụng các điều 109, 117 và đặc biệt là 331 Bộ luật Hình sự, cùng Luật An ninh mạng và các nghị định hướng dẫn. Song song, một chiến dịch “dọn sạch” xã hội dân sự khiến nhiều các tổ chức phi chính phủ NGO phải giải thể hoặc thu hẹp, các nhà hoạt động môi trường, tôn giáo, quyền đất đai liên tiếp bị bắt, trong khi nhà nước gây áp lực buộc các nền tảng số phải gỡ nội dung, tiết lộ dữ liệu và tuân thủ cơ chế kiểm duyệt ngày càng chặt chẽ.
Việc bình thường hóa trấn áp pháp lý đối với tiếng nói phản biện và bóp nghẹt các không gian tổ chức độc lập đã biến “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa mô tả thành một trạng thái thường trực: thay vì là diễn đàn để các chủ thể xã hội tranh luận, điều chỉnh chính sách và tích lũy niềm tin, không gian công bị quản trị như một mối đe dọa an ninh cần kiểm soát, khiến mọi kỳ vọng và hành vi trên thị trường đều phải tính tới rủi ro bị hình sự hóa.
8. “Quét” đại án tham nhũng mà không làm rõ đầy đủ trách nhiệm hệ thống
Vụ Vạn Thịnh Phát – SCB được trình diễn như bằng chứng điển hình cho quyết tâm “đốt lò”, với mức độ gian lận khổng lồ, bản án tử hình dành cho Trương Mỹ Lan và nhiều án chung thân, dài hạn cho các lãnh đạo ngân hàng, thanh tra và quan chức liên quan. Tuy nhiên, quá trình điều tra và xét xử cho thấy trọng tâm dư luận và truyền thông nhà nước bị dồn vào chân dung “đại gia tham nhũng” và một vài thanh tra nhận hối lộ, trong khi những câu hỏi về trách nhiệm chính trị và thể chế của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan giám sát tài chính và tập thể lãnh đạo cao nhất đối với sự sụp đổ của SCB – chiếm tới vài phần trăm GDP – không được đặt ra đến cùng. Cách “giải quyết” các đại án như vậy khiến chiến dịch chống tham nhũng trở thành một dạng xử lý chọn lọc: phơi bày, trừng phạt một số mắt xích để xoa dịu phẫn nộ xã hội, nhưng tránh đụng tới cấu trúc quyền lực cho phép những vụ việc đó tồn tại suốt nhiều năm, qua đó góp phần hiện thực hóa “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa nêu: pháp luật và cơ quan giám sát được vận dụng như công cụ củng cố tính chính danh của trung tâm quyền lực, hơn là một cơ chế độc lập để buộc chính trung tâm ấy phải chịu trách nhiệm.
9. Tập trung hóa quyền lực với “ô an ninh” và bào mòn nguyên tắc lãnh đạo tập thể
Đại hội XIV đánh dấu một bước ngoặt khi quyền lực tập trung chưa từng có vào tay Tổng bí thư Tô Lâm: ông được bầu lại với tỷ lệ gần như tuyệt đối, trong bối cảnh hệ thống “tứ trụ” dần bị vô hiệu hóa về thực chất và các vị trí còn lại trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư được sắp xếp theo thế “quanh trục” thay vì cân bằng đối trọng như trước. Song song, mạng lưới an ninh – thanh tra – tổ chức đảng do các tướng công an nắm giữ giữ vai trò “thanh bảo kiếm”, giám sát và răn đe toàn bộ đội ngũ, khiến cơ chế “tự kiểm soát lẫn nhau” giữa các trụ cột bị thay thế bằng một trục quyền lực đơn, được bảo vệ bởi bộ máy an ninh trung thành với cá nhân lãnh đạo hơn là với các quy tắc tập thể. Việc tháo dỡ dần nguyên tắc lãnh đạo tập thể và tái thiết kế điều lệ đảng theo hướng hợp thức hóa mô hình “một trung tâm quyền lực, nhiều vành đai phụ trợ” không chỉ thay đổi hình thức phân chia quyền lực trong nội bộ đảng, mà còn đẩy “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa cảnh báo lên một nấc mới: mọi rủi ro kinh tế – xã hội lớn đều quy tụ về một điểm chịu trách nhiệm duy nhất, trong khi các kênh cân bằng, điều chỉnh và phản hồi nội bộ ngày càng teo lại.
10. Chiến dịch chống tham nhũng: phô trương, chọn lọc như một công cụ trị nước
Các đại án như Vạn Thịnh Phát – SCB, với mức độ thất thoát khổng lồ và bản án tử hình dành cho Trương Mỹ Lan, được sử dụng như minh chứng cho quyết tâm “đốt lò”, đồng thời phát đi thông điệp rằng không còn “vùng cấm” trong xử lý các nhóm lợi ích từng được cho là bất khả xâm phạm. Tuy vậy, nhiều phân tích độc lập và chính các báo cáo quốc tế ghi nhận rằng chiến dịch này chủ yếu vận hành theo logic chiến dịch – cao điểm, nhắm trúng một số vụ việc tiêu biểu và cá nhân điển hình, nhưng ít tạo ra thay đổi thể chế nền tảng về minh bạch, giám sát độc lập hay bảo vệ người tố giác tham nhũng; hệ thống bổ nhiệm – mua quan bán chức và các kênh lợi ích từ đất đai, tài chính công vẫn cơ bản được giữ nguyên. Trong bối cảnh đó, chống tham nhũng trở thành một công cụ cai trị: vừa dùng để thanh lọc, răn đe nội bộ và củng cố vị thế chính trị của trung tâm quyền lực, vừa tạo hiệu ứng “đóng băng” bộ máy vì sợ sai, qua đó góp phần cụ thể hóa “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa nêu – nơi pháp luật và chiến dịch thanh lọc được huy động linh hoạt để phục vụ tính chính danh và kiểm soát, hơn là xây dựng một trật tự thể chế có thể dự đoán cho hoạt động kinh tế – xã hội.
11. Hợp thức hóa đàn áp bằng công cụ pháp lý – hành chính
Thay vì chỉ dựa vào biện pháp “chiến dịch” hay bạo lực thô, trung tâm quyền lực đã dần thiết lập một bộ công cụ pháp lý – hành chính cho phép đàn áp trở thành thực hành thường nhật và có vẻ “hợp luật”: các điều 109, 117 và nhất là 331 trong Bộ luật Hình sự, cùng với Luật An ninh mạng và hàng loạt nghị định như Nghị định 72, Nghị định 147 được sử dụng để xử lý từ nhà hoạt động đến người dân bình thường chỉ đăng bài phê phán công an hay chính quyền địa phương. Các báo cáo chỉ ra rằng từ 2018 đến đầu 2025, ít nhất 124 người đã bị kết án tù chỉ riêng theo Điều 331, số vụ tăng hơn bốn lần so với sáu năm trước đó, với nạn nhân là blogger, nhà báo độc lập, người dân khiếu kiện đất đai, thân nhân người chết trong trại giam hay các tiếng nói tôn giáo, sắc tộc. Khi những công cụ này được triển khai đều đặn, ra quyết định bởi công an – viện kiểm sát – tòa án trong một quy trình “đúng luật”, đàn áp không còn là tình trạng ngoại lệ mà trở thành trạng thái bình thường mới của thể chế, đúng với “cú sốc thể chế” mà TS. Nghĩa cảnh báo: luật pháp và thủ tục được thiết kế lại để làm công cụ duy trì ổn định chính trị và kiểm soát thông tin, chứ không phải để bảo vệ quyền và tạo tính dự đoán cho các chủ thể trên thị trường và trong xã hội.
12. Tư duy “nhà nước an ninh – phát triển”
Trong diễn văn và tài liệu Đại hội XIV, lãnh đạo an ninh và Tổng bí thư Tô Lâm ràng buộc rất chặt ba mục tiêu chiến lược – ổn định, tăng trưởng cao, nâng cao đời sống – với vai trò trung tâm của lực lượng công an, coi đây vừa là “thanh gươm” vừa là “lá chắn thép” bảo đảm thành công phát triển đến 2030–2045. Bộ Công an được giao không chỉ giữ trật tự mà còn “chủ động kiến tạo phát triển”, xây dựng “công nghiệp an ninh hiện đại”, tham gia giám sát luật pháp, hoạt động doanh nghiệp và quá trình chính thức hóa kinh tế, biến an ninh nội địa thành trục chính của một mô hình “nhà nước phát triển” kiểu mới. Cách gộp chung an ninh và phát triển này khiến cú sốc thể chế mà TS. Nghĩa mô tả trở nên toàn diện hơn: mọi mục tiêu kinh tế, từ tăng trưởng 10% đến tái cơ cấu khu vực tư nhân, đều được triển khai qua lăng kính an ninh, làm cho thị trường phải vận hành dưới một “ô an ninh” vừa là trọng tài, vừa là người chơi, thay vì trong một trật tự pháp lý tương đối trung lập và có thể dự đoán.
Kết luận
Những gì TS. Nghĩa phác họa như một “cú sốc thể chế” đang âm thầm bẻ cong kỳ vọng, rủi ro và phân bổ nguồn lực của thị trường, qua những kênh tưởng như thuần túy kinh tế – thể chế, trên thực tế đã được hiện thân bằng một tập hợp rất cụ thể các nhân sự, quyết sách và thực hành quyền lực: từ Đồng Tâm, sự trỗi dậy của bộ máy an ninh trong lõi lãnh đạo, cách “vừa chạy vừa sắp hàng”, “sắp xếp lại giang sơn” từ trên xuống, lựa chọn các chaebol tư nhân thân hữu, thúc đẩy siêu dự án thiếu tham vấn, đến triệt phá xã hội dân sự, hợp thức hóa đàn áp bằng công cụ pháp lý – hành chính, xử lý chọn lọc các đại án tham nhũng và hợp nhất phát triển với an ninh trong một mô hình “nhà nước an ninh – phát triển”. Mỗi mảnh ghép này không phải là một “sự kiện rời rạc”, mà là một mắt xích trong cùng một cơ chế, nơi quyền lực tập trung, được chống lưng bởi bộ máy an ninh, vừa thiết kế lại luật chơi, vừa trực tiếp can dự vào kinh tế và đời sống xã hội theo nhịp chiến dịch, đẩy thị trường và công dân vào trạng thái thường trực phải phòng vệ trước rủi ro chính trị.
Nếu nhìn từ góc độ đó, điều đáng lo ngại hơn cả không phải là tham vọng tăng trưởng 10% hay vài siêu dự án cụ thể, mà là việc “cú sốc thể chế” đã trở thành môi trường sống mới của nền kinh tế: mọi quyết định dài hạn về đầu tư, đổi mới, tích lũy vốn xã hội đều phải tính đến khả năng bị cuốn vào một trục quyền lực an ninh hóa, thiếu cơ chế cân bằng và chịu trách nhiệm. Khi thế hệ lãnh đạo hiện nay đặt cược vào tăng trưởng cao dưới một kiến trúc quyền lực như vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là họ có đạt được các chỉ tiêu trong vài nhiệm kỳ tới hay không, mà là đến khi cú sốc này tích lũy đủ lâu, liệu còn bao nhiêu dư địa thể chế, kinh tế và xã hội để sửa sai mà không phải trả giá bằng một giai đoạn mong manh kéo dài – cho cả nhà nước lẫn chính những người dân đã bị buộc phải “thích nghi” với nó.
Chu Đông Gia
………………
Nguồn:
TS Nguyễn Xuân Nghĩa. Khi cú sốc thể chế lan truyền sang thị trường. Tạp Chí Thế Kỷ Mới. 31/01/2026. https://thekymoi.media/nhung-cu-soc-hang-o-viet-nam-hau-dai-hoi-xiv-ky-2-23933/