Ngô Nguyên Dũng: Mùa Lũ (*)

Tác giả: Ngô Nguyên Dũng
Hình minh họa: AI Generated.

Lời tác giả:

Phần trích đoạn tiểu thuyết “Núi Đoạn Sông Lìa” của tôi ấn hành năm 2017, giờ đọc lại, phản ảnh phần nào thảm cảnh lũ lụt hiện nay, 2025, tại khắp các tỉnh thành miền Trung và Nam Trung phần. Tôi cho phổ biến lại, với niềm hy vọng:

Đáy trời, tận nơi xa, ánh bình minh rựng sáng

Trân trọng.

***

“Dưng không núi đoạn sông lìa,
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.”

Sang ngày thứ bảy, sáng ra, mưa vẫn rì rào. Nước sông đã dâng cao hơn nền nhà. Rác rến, cỏ mục và xác gia súc trôi lều bều đây đó. Vài hôm trước, lúc nước vừa ngập lé đé hàng ba, má đã hối thúc mọi người thu dọn vật dụng lên gác. Nhà nhiều gian, đồ đạc toàn bằng gỗ nặng, gác lại bắc ván mỏng, nên chỉ khuân lên những thứ nhẹ, cần thiết. Chị Châu vừa tóm vén quần áo, sách vở và mấy cuốn tập chép thơ, nhạc vừa thút tha thút thít. Cẩm có chiếc va-ly con bằng mây đánh vẹc-ni nâu, ông nội tự tay đan lấy, cất hoài trong tủ, nay được dịp đem ra xài. Cẩm lựa ra mấy bộ quần áo ưng ý, tẩn mẩn xếp gọn vô va-ly, cùng tất cả quà cáp của ba mua cho. Má huy động chị Ba Khởi đem gạo nếp, mắm muối và lương thực khô, phần chất lên bộ ngựa nhà bếp, phần đem lên gác dự trữ. Lúa còn hai phần ba lẫm, má kêu chú Năm Tự hốt đổ đầy hai bộ thọ dành cho ông bà nội kê trên cặp chân ngựa dọc mái hiên nhà. Đâu đã đủ, phần còn lại anh Chúc với anh Chung xúc vô bao bố, chèo ghe tải lên núi Phụng, gởi trong chùa. Ông nội lo dọn dẹp cây kiểng lên chỗ cao ráo. Chẳng mấy chốc, nóc tủ bàn thờ đầy nhóc nhách đồ xưa và chậu kiểng lùn. Còn mấy hòn giả sơn, ông nội bỏ thí ngoài mưa gió. Tội nghiệp, bà nội tuổi già liệu lẫn, cứ xê dịch bộ ấm trà men rạn ưa thích và tráp con sơn mài đựng trầu cau từ chỗ nầy qua chỗ kia, mà vẫn chưa vừa bụng. Tới khi ông nội dằng lấy, xách thẳng lên gác, bà mới thôi than thở.

Rạng ngày thứ tám, má thức sớm, ra ngó hướng đông. Mây đùn lên, lớp lớp ba đào. Gió không đủ mạnh, thổi mây tan. Thinh không nặng trịch hơi nước. Trời đất biến thành vùng đại hải, a dua liên hoàn cùng sấm sét. Má nhớ lời thầy Ba dặn dò bữa trước, hối thúc cả nhà lên ghe, nhắm hướng núi Phụng.

Nhà có hai ghe, một tam bản và một ngũ bản. Má kêu chú Năm Tự và chị Ba Khởi lùa con heo nái vừa chạm nọc tháng rồi và khiêng hai giỏ mây chen chúc gà vịt chục con lên chiếc tam bản. Số còn lại dồn hết qua ghe lớn cùng quần áo và gạo mắm dùng ngắn hạn. Anh Chung ngồi mũi, anh Chúc chèo lái. Ghe khẳm lườn, mưa trút không thương tiếc, má và chị Châu phải liền tay tát nước. Cẩm ôm khư khư chiếc va-ly trong lòng, tóc tai mặt mũi đầm đìa nước mưa, cả hai dòng nước mắt lo sợ. Lần đầu trong đời, Cẩm thấy nước nhiều như vậy. Lênh láng. Vô tận. Phù sa rặt một màu xương xáu. Mà không phải chỉ có nước, còn thấy xác heo chó phình trương, lềnh bềnh. Cả xác người. Cái sấp cái ngửa. Cái quắp tay chổng trời, cái bung tóc bấp bênh quấn củi mục. Mỗi lần như vậy, má tức thì ngừng tay tát nước, giơ che mắt Cẩm. Cẩm chỉ dám nhìn một lần cảnh tượng khủng khiếp đó. Sau đó, mỗi bận nghe anh Chung hô lớn, xác tắp xác tắp, là Cẩm tự động cúi mặt, nhắm mắt kín mít.

Cẩm nhớ lúc trước theo má và bà nội tới núi Phụng bằng xe ngựa, đâu có xa lắm. Sao lần nầy, ngồi ghe, thấy lâu lắc lê thê. Tới chân núi, hoá ra ghe chèo lạc hướng vòng vo nhiều tiếng đồng hồ. Chị Châu buột miệng càu nhàu. Anh Chúc bực bội:

– Tới được là may rồi, ở đó cằn nhằn. Lụt lội tràng giang đại hải như vầy, sao định được phương hướng? Giỏi, chèo đi!

Má mắng:

– Tụi bây câm miệng lại! Lo khiêng đồ lên chùa, không thôi trời tối.

Bây giờ mọi người mới để ý. Ở phương đông, bóng ngày đã nhá nhem sẫm màu. Một vệt đen đủi, thô kệch, vắt vẻo bám lưng trời. Hướng đối diện, le lói ánh chiều, tím ngắt như ứa máu bầm. Anh Chúc cắm sào, buộc ghe vô thân cây gần đó, vuốt mặt cho ráo nước mưa, rồi lẹ tay khiêng đồ đạc khỏi ghe. Anh xốc nách Cẩm, đặt lên tảng đá lớn. Cẩm mếu máo, quay mặt quanh quất, không tin ở mắt nhìn.

Không phải chỉ riêng gia đình ba má tản cư lên núi Phụng, mà sa số. Người, như lũ chuột nước lụt, từ hang hốc đâu kéo về, lố nhố. Tiếng gọi nhau, tiếng quát tháo, tiếng chửi rủa, tiếng than khóc lẫn tiếng gia súc vang vẳng chỗ đất hẹp, nơi bằng phẳng duy nhất gần lối lên chùa. Đất cỏ nát bấy chân người, lầy lội bùn sình, trơn như thoa mỡ. Cẩm ngước mắt lên con dốc rắn trườn cong giữa lùm bụi um tùm, thấy dòng người chen nhau, lúc nhúc, hỗn độn như bầy thú tan tác. Vài đốm đèn chai tắt hiện tựa ma trơi. Thỉnh thoảng một lằn chớp xé trời, loằng ngoằng loé bóng những thân người di động. Tiếp theo là tiếng sấm kinh thiên hoà cùng dăm ba tiếng rú hãi hùng. Hai chân Cẩm lập cập, muốn khuỵu xuống trước cảnh tượng quái dị. Chợt, có bàn tay ai kẹp lấy cổ tay Cẩm, lôi đi tuồn tuột. Mưa phẫn nộ, chan hoà. Gió từng cơn nghiến rít khe lá, tưởng như roi quất xiên xéo thinh không. Chân ai giẫm lên gót dép. Cẩm chói lói kêu lớn:

– Dép của con… má, má!

Má lạc giọng:

– Vụt đi!

Rồi như hét:

– Chúc, nắm tay bà nội! Thằng Chung… Chung đâu, coi chừng ông nội! Châu, lẹ lên!

Tiếng má bạt theo gió, tan biến vào chuỗi tạp âm, nghe như một đám hát sơn đông mãi võ kỳ dị…

Khi khứu giác Cẩm bàng bạc bắt được hương bông sứ, và đột ngột, một hồi chuông hoàng hôn dõng mãnh dội vào không gian, Cẩm mới thực sự hoàn hồn. Chuông gióng gần lắm. Như lời chào đón hoan hỉ. Như ngàn bàn tay thanh âm xoè ra, từ bi đón nhận lũ chúng sinh khốn nạn. Nhiều người buông giọng “mô Phật” liên hồi. Gót chân Cẩm giẫm lớp gạch vụn rải sân chùa, đau nhói. Khoé mắt Cẩm đục ngầu nước mắt và mưa gió lập loè nhiều đốm đèn vàng lợ, có chỗ sáng rực sắc trắng vài ngọn măng-xông. Bóng tối thiên tai úp xuống chóng vánh. Mới đó đã phủ trùm đen nghịt. Đám người mệt lả tự động chúi lưng xuống khoảng sân rộng, nằm ngồi hỗn độn. Má cũng ấn vai Cẩm ngồi xuống. Cẩm mềm nhũn như sợi bún, ngả vào lòng má, rã rượi tan theo cơn mê bầm dập kinh hoàng, nhấp nhô xác sinh vật trên sóng nước phù sa đen đủi.

Cẩm ngất đi bao lâu, không rõ, lúc ngũ quan Cẩm mong manh khẽ chạm bờ hồi sinh, thì mơ hồ nhận ra bóng ngày. Có những khối sáng lờ mờ đập vào thị giác Cẩm. Lớp lớp đục lờ tròng tréo đan lên tiềm lực Cẩm, vực dậy. Chốn nầy, Cẩm cảm nhận yếu ớt, đã có lần đặt chân tới, đã thấy qua khi nào rồi. Cẩm chớp mắt định thần. Một vệt nâu bụ bẫm đâm ngang khung ảnh trắng đục. Và lắc rắc những đốm sáng rỡ, mịn màng, tươi rói như lộc non. Cùng lúc với giọng người lắc lay gọi tỉnh. Tâm cảm Cẩm bật thức, nhận ra cành sứ đơm bông trắng ngoài cửa bếp một lần đi lạc.

Ảnh sắc quanh Cẩm rõ dần. Nhiều khuôn mặt cúi gần. Má, bà nội, rồi chị Châu, anh Chúc, tới ông nội, anh Chung. Sau cùng là mùi dầu khuynh diệp quen thuộc ám đầy mũi Cẩm, và gương mặt ngắn, phúng phính hai gò má của chị Ba Khởi. Không thấy chú Năm Tự đâu. Còn ba? Cẩm tự hỏi, giờ nầy ba đang phiêu bạt nơi nào, có hay cảnh nhà đang lâm cơn gian khổ? Dưng không trực giác Cẩm bất an khi nghĩ tới ba. Cẩm láp dáp:

– Ba, ba đâu?

Nhiều nét mặt ngơ ngác, đưa mắt ngó nhau. Má nhẹ vuốt tóc Cẩm:

– Ba không về được. Khi nào nước rút, ba về.

Cẩm thều thào:

– Khát! Cho con nước!

Gương mặt chị Châu vụt biến khỏi tầm mắt Cẩm. Hai dòng nước mắt không nguyên cớ lăn chậm xuống thái dương Cẩm, ấm áp như hai ngón tay ba dạo nọ nhúng màu nước vẽ hề lên mặt Cẩm. Tiếng cười Cẩm lúc soi gương vọng lại khanh khách như mảnh vụn pha lê vỡ nát xuống nền gạch. Không phải, mà là phiến gương quá khứ rực rỡ, ai đành đoạn đập bể tan tành. Cẩm nức lên, thấy khuôn mặt hề rạn nứt trăm mảnh méo mó, dị hợm.

Chị Châu trở lại, tay cầm chén nước, tay nâng đầu Cẩm, kê vào miệng. Cẩm hớp lấy hớp để, khiến chị Châu phải lên tiếng:

– Từ từ em, kẻo sặc.

Bàn tay má mơn vuốt đầu tóc Cẩm, lau nhẹ hai vệt nước mắt quằn quện:

– Có gì đâu mà khóc. Mai mốt mình về nhà!

Chưa bao giờ Cẩm thấy hai tiếng “về nhà” gần gũi, thân thiết như vậy. Cẩm dáo dác:

– Mình đang ở đâu vậy má?

– Trong chùa Phụng, con không nhớ sao?

Cẩm chau mày. Má nhắc:

– Hai hôm trước nhà mình tản cư lên đây tránh lụt. Tới nơi, con ngã ra chết giấc, mê man hai ngày hai đêm làm má lo muốn chết. May có Phật độ. Con thấy trong người ra sao?

Cẩm ngơ ngác:

– Con thấy ba về, bôi mặt cho con làm hề.

– Lụt lội như vầy, ba làm sao về được con? Con có đói bụng không, má đút cháo cho ăn?

Giọng má nghe hiền từ, mà sao đườm đượm nỗi gì như than trách. Cẩm gật đầu. Má sai chị Châu đi múc cháo. Ăn xong chén cháo với đường thẻ, mồ hôi rịn hột, Cẩm thấy khoẻ khoắn, tinh thần minh mẫn hẳn. Thêm một giấc ngủ vùi, dặm nhạc mưa và chuông mõ ru êm, Cẩm tỉnh giấc lúc trời còn chạng vạng. Nhổm lưng ngồi dậy, Cẩm lờ mờ nhận ra quanh mình, người nằm sắp lớp. Nếu đó đây không nghe tiếng ngáy và nhiều hơi thở mệt, đứt quãng, Cẩm đã nghĩ rằng mình đang nằm cạnh vô số thây người la liệt. Rãnh cửa hé rọi đường sáng nhờ nhợ. Cẩm ngóng tai. Không còn tiếng tai ương giận dữ. Tất cả phẳng lặng, yên tĩnh như thể những gì xảy ra hôm trước chỉ là quyển truyện kinh dị, gấp sách lại là hết.

Cẩm rón rén giở mền, rời chiếu nằm, lần theo vạch sáng, ra cửa tìm nước uống. Cẩm không muốn tin ở mắt nhìn. Đáy trời, tận nơi xa, ánh bình minh rựng sáng, nhuốm hồng vân vi. Sắc hồng của ngàn nụ dâm bụp non. Sắc hồng rướm tươi rói hai má chị Châu những trưa gội tóc ngoài ao nắng. Cẩm như bị thôi miên, chân không dò dẫm theo luồng sáng nhàn nhạt dẫn lối, run rẩy rơi xuống sân gạch, toả sương mỏng…

Ngô Nguyên Dũng


(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Núi Đoạn Sông Lìa” – 342 tr. – Nxb. Nhân Ảnh 2017 – 20.00$. Sách đặt mua trên Amazon.

Có thể bạn cũng quan tâm