1. Lời mở đầu
Cuối năm 1980, tôi thiên cư từ một tiểu bang lạnh giá ở miền trung nước Mỹ sang California. Ngay khi vừa ổn định cuộc sống, tôi lập tức bắt tay vào những mơ ước mà khi còn ở Việt Nam không có điều kiện thực hiện. Trong những ước vọng nhỏ nhoi đó có hai món đồ kỷ niệm tôi còn giữ đến ngày nay. Đó là một cái nghiên mực và một cái ống bút bằng tre mua trên phố Tàu ở Los Angeles, cách nơi tôi ở chừng 40 dặm.
Cái nghiên bằng đá đen có tạc hình một con trâu nằm, để trong một cái hộp gỗ đánh xi nâu với giá thuở đó là 36 USD, còn cái ống bút chỉ có 1 USD. Nhẩm tính hai món đồ này đến nay cũng đã tròm trèm 40 năm.
Cái nghiên đó tôi dùng thường xuyên trong khoảng 5 năm nhưng lâu nay họa hoằn lắm mới có dịp đem ra ngắm, tuy số lượng nghiên mực sưu tầm trong nhà đã lên số hàng chục trong đó có cả nghiên Tàu, nghiên Nhật, nghiên Triều Tiên… nói chung là từ những quốc gia đồng văn với Trung Hoa hay những nơi có một cộng đồng Hoa kiều lớn.
Thực ra, cái nghiên này là cái thứ hai tôi có. Trước đây, khi làm ở một tỉnh miền Trung, tôi có mua một cái nghiên, loại nghiên thông dụng cho học sinh người Hoa, tuy cũng bằng đá nhưng không phải là đồ hiếm quí. Sau năm 1975, cái nghiên đó thất lạc phần vì tôi không còn viết chữ, phần vì để chỗ nào đó quên phứt đi nên cũng không để ý tới nữa.
Tuy không mấy khi cầm đến cây bút lông, nghiên mực vẫn là một món đồ ưa thích. Mỗi lần ngắm nghía một chiếc nghiên trong bộ sưu tập, cục đá vô tri kia tưởng như đang nói chuyện với mình về những gì đã trải qua, kể lể cho chúng ta về những dòng chữ, những nét vẽ mà nó đã dự phần.
Ngoài số nghiên mà tôi biết chắc là có nguồn gốc từ Trung Hoa, tôi cũng hay mua những chiếc nghiên từ Nhật Bản. Nghiên Nhật Bản giản dị, lắm khi để nguyên tảng đá không đẽo gọt (ngoài phần làm nghiễn đường), chỉ có một cái nắp đậy bằng gỗ quí nên gần gũi, giản phác mà tinh tế, thanh nhã mà thầm kín, không phô trương. Nghệ thuật của người Nhật gần với mình hơn nghệ thuật của người Tàu.
Ngày hôm nay, phần lớn ít ai dùng nghiên, đa số những “cụ đồ tân thời” trình diễn thư pháp mỗi dịp Tết ở Việt Nam thường dùng bát để đựng mực rót từ những chai công nghiệp. Hầu như ít ai mua mực thỏi, cũng không còn cái thú mài mực để dùng nên có lẽ đặt nặng phần luyện tập nét chữ mà ít chú trọng đến nghi thức và dụng công của người đọc sách đã đưa việc viết chữ lên thành một thứ “tôn giáo” để di dưỡng tâm hồn. Trong cái tài hoa dường như đã nhuốm mùi tục lụy.

2. Văn nhân và nghiên mực
Danh sĩ luôn luôn chú trọng đến những dụng cụ cần thiết cho việc làm văn, nên không chỉ nghiên mà bút, giấy, mực cũng luôn luôn được coi trọng. Tuy không mấy khi chế tạo được những vật dụng nhưng riêng về nghiên mực, nhiều thư pháp gia, họa sĩ tự mình đi tìm kiếm đá tốt và trao đổi kinh nghiệm với người thợ làm nghiên nên sản phẩm cũng phản ảnh phần nào ý kiến của người dùng. Tây Thanh Nghiễn phổ, một loại danh mục các nghiên mực sưu tập trong cung nhà Thanh được thực hiện đời Càn Long, cho biết đến lúc đó còn lưu lại nhiều nghiên đá của Mễ Phất (米芾) [1], Triệu Mạnh Phủ rất tinh vi. Chính vì liên quan trực tiếp đến văn chương, nên những nghiên cứu về nghiên đã xuất hiện rất sớm, ghi chép nhiều chi tiết cả về loại đá lẫn hình dáng và cách chế tạo.
Ngay từ thời Tống, sách viết về nghiên đã khá nhiều, chẳng hạn như Nghiễn phổ (硯譜) của Âu Dương Tu (歐陽修), Nghiễn lục (硯錄) của Đường Tuân (唐詢), Nghiễn sử (硯史) của Mễ Phất (米芾), Nghiễn phổ (硯譜) của Lý Chi Ngạn (李之彥), Nghiễn tiên (硯箋) của Cao Tự Tôn (高似孫). Riêng Nghiễn tiên có thể coi là một bộ toàn thư vì chia thành nhiều quyển, mỗi quyển luận về một loại, Đoan thạch, Thiệp [2] thạch, các loại đá và minh văn khắc trên nghiên.
Sang thời Minh, dưới triều Hồng Võ có Tào Chiêu (曹昭) soạn Cách cổ yếu luận (格古要論), có một chương “Luận cổ nghiễn” (論古硯), triều Vạn Lịch có Cao Liêm (高濂) soạn Tuân sinh bát tiên (遵生八牋) cũng có một mục luận về nghiên, miêu họa một số nghiên mực mà ông thấy nên giúp cho người sau biết được hình dạng những nghiên đó, coi như bước khởi đầu đưa hình vẽ vào trong sách. Trước thời Minh, khi luận về các loại đá làm nghiên như Đoan thạch, Thiệp thạch thì phần lớn đều giống nhau, đại đồng tiểu dị, nên người sau cũng khó mường tượng ra được sự khác biệt như thế nào.
Sang thời Minh mạt – Thanh sơ và nhất là qua ba đời vua Khang Hi, Ung Chính, Càn Long đều là những người chuộng văn học, thời gian trị vì lại lâu dài nên thư pháp, nghệ thuật được đề cao, việc chọn đá, tạc nghiên cũng nhờ đó mà phát triển. Đầu thời Thanh, Cao Phượng Hàn (高鳳翰) soạn Nghiễn sử (硯史), Kỷ Quân (紀昀) soạn Duyệt Vi thảo đường nghiễn phổ (閱微草堂硯譜), Đường Bỉnh Quân (唐秉鈞) soạn Văn phòng tứ khảo đồ thuyết (文房肆考圖說) là những bộ sách vừa cả văn, vừa có hình vẽ rất rõ ràng và đặc sắc.
Về sách vở do triều đình thực hiện, bộ Tây Thanh nghiễn phổ (西清硯譜) được coi như hàng đầu trên cả hai phương diện miêu tả lẫn hình vẽ. Theo lời đề tựa của vua Càn Long trong Tây Thanh nghiễn phổ thì:
Trong nội phủ có nhiều nghiên, hoặc từ triều trước để lại, hoặc do các đời cũ như Ngọc Lan đường nghiễn, Bích Thủy nghiễn thời Tấn, vẫn trưng bày ở Noãn Các nơi phía đông và phía tây của Càn Thanh cung, nay nghĩ rằng vật thì nhiều, đất thì rộng để các nơi nhiều năm qua, không khỏi lung tung khó nhớ, có khi mất mát thất truyền, thật là đáng tiếc [3].
Năm Mậu Tuất, Càn Long thứ 43 (1778), vua Cao Tông sai các học sĩ đương thời bao gồm Vu Mẫn Trung (于敏中), Lương Quốc Trị (梁國治), Vương Kiệt (王杰), Đổng Cáo (董誥), Tiền Nhữ Thành (錢汝誠), Tào Văn Thực (曹文埴), Kim Sĩ Tùng (金士松), Trần Hiếu Vịnh (陳孝泳) tất cả 8 người lo việc soạn thảo, còn vẽ hình thì do bọn Môn Ứng Triệu (門應兆) phụ trách lấy tên là Tây Thanh nghiễn phổ.
Tây Thanh là nơi nghỉ ngơi nhàn nhã trong cung. Dưới thời Càn Long, Nam thư phòng cũng có tên gọi là Tây Thanh vốn là nơi các học sĩ trong triều đến làm việc, biên soạn sách vở.
Bộ Nghiễn phổ này bao gồm 24 quyển, chia theo chất loại và thời đại, từ quyển 1 đến 6 là nghiên bằng gốm sứ, quyển 7 đến 21 là nghiên đá, quyển 22 đến 24 là các phụ lục. Trong các loại đồ gốm cũng chia ra bằng sành, bằng ngói và bùn nung. Còn về bằng đá, sách chia ra: Đoan nghiễn, Thiệp nghiễn, Thao Hà nghiễn, Hoắc Thôn thạch. Trong phần phụ lục, sách liệt kê các loại khác như ngọc, sứ, tuy cũng có danh gia dùng đến nhưng không nhiều, cũng không thích hợp với việc bút mực nên không được liệt vào hàng chính lục.
Tây Thanh nghiễn phổ bản gốc bao gồm 200 chiếc nghiên, phụ lục thêm 40 chiếc nữa, tổng cộng 240 chiếc, ghi chép và miêu tả những chiếc nghiên cất giữ trong cung, thêm phần giải thích và hình vẽ. Nói tóm lại bộ Nghiễn phổ này là một dạng mục lục (catalogue) liệt kê các nghiên quí đang cất giữ trong triều đình.
Hình vẽ do họa sĩ trong nội các ảnh hưởng cách vẽ có bóng đen của Tây phương [4] nên có ba chiều, nhìn vào dễ hình dung ra món đồ hơn lối vẽ đường nét của Trung Hoa. Khi so sánh với những chiếc nghiên còn tồn tại, những hình vẽ trong Tây Thanh nghiễn phổ giống hệt từng chi tiết.


Một bộ 6 chiếc nghiên (phỏng cổ) đời Thanh
“Tây Thanh nghiễn phổ cổ nghiễn” tr. 28-9
3. Tên gọi của nghiên
Ngày xưa lấy ngói làm nghiên nên gọi là nghiễn ngõa 硯瓦hay ngõa nghiễn瓦硯; về sau lấy đá làm nghiên nên gọi là thạch nghiễn 石硯. Thời Tấn, Phó Huyền 傅玄có viết Nghiễn Phú 硯賦; thời Đường, Dương Sư Đạo 楊師道 có làm thơ Vịnh nghiễn 咏硯 và về sau Lý Kiều 李嶠 cũng có Vịnh nghiễn. Người Trung Hoa đưa ra nhiều tên gọi khác nhau, ít nhiều đều có tính “nâng cấp” và “thi vị hóa” cục đá dùng để mài mực. Họ dùng những tên sau đây để gọi chiếc nghiên:
3.1. Tức Mặc hầu (即墨侯)
Tên này có từ thời Đường. Trong Tức Mặc hầu Thạch Hư trung truyện (即墨侯石虛中傳) có chép : Nhà vua thấy đây là một món đồ ích lợi, khen là kính cẩn lặng lẽ, luôn luôn ở bên cạnh mình hầu hạ, ngày ngày quen thuộc với văn chương nên phong cho Tức Mặc hầu. Thời Tống, Vương Mại 王邁 trong bài thơ Trừ dạ tẩy nghiễn (除夜洗硯) có thơ rằng: 多謝吾家即墨侯,朝濡暮染富春秋 Đa tạ ngô gia Tức Mặc hầu; Triêu nhu mộ nhiễm phú Xuân Thu (Đa tạ anh Tức Mặc hầu nhà ta, Sáng ướt chiều thấm kinh Xuân Thu) [5]. Trong Ấu học quỳnh lâm (幼學瓊林), Cung thất loại, quyển 3 chép: 石虛中,即墨侯,皆為硯稱 (Thạch Hư trung, hay Tức Mặc hầu đều là cách người ta gọi chiếc nghiên).
3.2. Vạn Thạch quân (萬石君)
Tô Thức (tức Đông Pha) thời Tống viết trong Vạn Thạch quân La Văn truyện ca tụng loại La Văn nghiễn (một loại Thiệp nghiễn) nói là có danh sĩ tên La Văn, người đất Thiệp 歙, khi còn sống thường ở ẩn trên núi Long Vĩ 龍尾. La Văn giúp vua Thành Văn trị nước, công lao rất lớn nên được phong là Vạn Thạch quân, La Văn gọi cái nghiên của mình là Vạn Thạch quân, về sau nhiều người cũng dùng theo.
3.3. Ngõa nghiễn (瓦硯)
Cũng gọi là Nghiễn ngõa hay Ngõa đầu nghiễn. Trước thời Đường ngoài nghiên làm bằng đá hay nghiên làm bằng ngói, người ta còn làm nghiên bằng đồ gốm. Trừng nê nghiễn là một loại nghiên làm theo kiểu làm đồ gốm nhiều công phu. Hàn Dũ trong Ế nghiễn văn (瘞硯文) có nói Trừng nê nghiễn “đất làm thành chất, đồ sứ làm thành khí”. Thời Tần – Hán làm ngói các cung điện thường lấy bùn từ sông Phần nên người đời sau lấy ngói đó làm nghiên.
Ngoài ra, ở Nghi Hưng nơi chuyên làm các loại ấm đất nhỏ [thường gọi ấm tử sa] là đồ gốm không tráng men rất nổi tiếng cũng có nặn nghiên được nhiều người sưu tầm.


Nghiên Nghi Hưng
(sưu tầm của tác giả) [6]
3.4. Đào hoằng (陶泓)
Hàn Dũ thời Đường trong Mao Dĩnh truyện gọi nghiên là Đào hoằng nên Đào hoằng cũng để chỉ nghiên làm bằng đồ gốm. Thời Đường Tống các loại nghiên đá tuy phong phú nhưng vẫn không thông dụng và dễ làm như các loại nghiên làm bằng gốm sứ. Ở nước ta, dường như nghiên phần nhiều làm bằng đồ sứ nên cũng không mấy người dùng nghiên đá.
3.5. Nghiễn đài (硯臺)
Nghiễn đài là tiếng gọi thông dụng nhất của chiếc nghiên. Thời Đường, Tư Không Đồ có thơ rằng: “Tịch dương chiếu cá tân hồng diệp, Tự yếu đề thi lạc nghiễn đài” (Nắng buổi chiều chiếu vào chiếc lá mới đỏ, Muốn đề thơ nhưng chiếc nghiên lại để đâu không biết).
3.6. Thạch hữu (石友)
Người xưa xem những món trong thư trai của mình đều là bạn bè, vì thế chiếc nghiên được gọi tên Thạch hữu (người bạn đá). Vương Viêm 王炎 thời Tống trong bài thơ Đề Đồng Thọ khanh Bác Nhã đường 題童壽卿博雅堂có viết: 剡溪來楮生,歙穴會石友: Thiểm Khê lai chử sinh, Thiệp Huyệt hội thạch hữu” (Giấy từ Thiểm Khê đến, Gặp nghiên ở Thiệp huyệt). Chử sinh [hay chử tiên sinh] là giấy, thạch hữu là nghiên.
3.7. Nghiễn điền (硯田)
Người đọc sách đời xưa coi văn chương là nghề nghiệp, nghiên là ruộng cày ám chỉ văn chương là sinh kế của nhà nho. Tô Thức thời Tống viết: “我生無田食破硯,爾來硯枯磨不出: Ngã sinh vô điền thực phá nghiễn, Nhĩ lai nghiễn khô ma bất xuất” (Tôi vốn không có ruộng chỉ sống bằng chiếc nghiên sứt mẻ, Vậy mà dạo này đến chiếc nghiên cũng đã khô, mài không ra mực).
3.8. Nghiễn trì (硯池)
Vì có chỗ lõm nên người ta gọi là ao mực. Trong Nghiễn phú của Phó Huyền thời Tấn viết: “蘆方圓以定形,鍛金鐵而為池: Lô phương viên dĩ định hình, Đoạn kim thiết nhi vi trì” (Vuông hay tròn đã định hình rồi, Rèn vàng sắt để làm ao).
3.9. Nghiễn sơn (硯山)
Dùng đá thiên nhiên làm nghiên, tạc hình như ngọn núi nên gọi là nghiễn sơn.
3.10. Mặc hải (墨海)
Mặc hải nghĩa là biển mực, chỉ cái nghiên lớn, chứa được nhiều mực (khác với nghiễn trì là nghiên nhỏ).
3.11. Thư nghiễn (書硯)
Sách Thuyết phu 說郛 tập hợp Hán nam ký 漢南記 của Trương Oánh 張瑩có viết: “Ở phía nam ao Sái Tử 蔡子池 của Giang Châu江州 có một giếng đá, sâu khoảng hai trăm trượng, đá màu xanh, dùng làm nghiên rất tốt”. Chu Hi 朱熹 thời Tống trong Huấn học trai qui 訓學齋規 viết: Các bậc tiền bối nói rằng: 壞筆污墨,瘝子弟職。書几書硯,自黥其面 (bút cùn, để mực bẩn, sẽ làm hỏng chức phận của con cháu; viết lên án, vẽ lên nghiên, thì như tự bôi mực lên mặt mình).
3.12. Thạch trượng nhân (石丈人)
Viên Mai 袁枚trong Tùy viên thi thoại 隨園詩話quyển 14 có viết: Suốt tháng đó đi chơi ở am Hải Triều phía đông, được Văn Tiết Công 文節公cho một chiếc nghiên vuông nhỏ … lúc sắp chết tặng lại cho Tra Tuân Thúc查恂叔. Khi đó người đề thơ rất nhiều, Tiền Tân Mi 錢辛楣 nói rằng “trước mắt chỉ thấy thạch trượng nhân, Giang Nam không còn được ai nữa”.
3.13. Thạch hương hầu (石鄕侯)
Tôn Dịch 孫奕 thời Tống viết trong mục Nhân vật dị danh, phần Tạp ký, sách Lý Trai thị nhi biên《履齋示兒編·雜記·人物異名》: “Nghiên gọi là Thạch hương hầu”. Trong Thư ngôn cố sự, Văn vật loại, Nghiễn 《書言故事·文物類·硯》 viết là “Tiết Tắc (薛稷) làm nghiên, phong cho nó là thạch hương hầu” [7]
4. Các bộ phận của nghiên
Từ thời Hán về sau, cái nghiên đã trở nên có qui thức và từng bộ phận trên chiếc nghiên được đặt tên và được số đông công nhận, chủ yếu có nghiễn đường, nghiễn trì, nghiễn ngạch, nghiễn cương, nghiễn biên … [8]

4.1. Nghiễn đường (硯堂)
Tức là lòng nghiên, còn gọi là mặc đường, mặc đạo hay nghiễn tâm. Nghiễn đường là nơi mài mực, là chỗ mà người ta thử để biết nghiên có tốt hay không? Một chiếc nghiên được đánh giá chủ yếu là ở mặc đường nên khi làm nghiên, người ta luôn luôn chọn chỗ đá tốt nhất để làm nơi mài mực.
4.2. Nghiễn trì (硯池)
Còn gọi là mặc trì, nghiễn hải, nghiễn hồ, để chỉ nơi lõm xuống trên chiếc nghiên, là chỗ chứa nước hoặc mực. Người ta thiết kế nghiên trì theo cục đá mà họ có, khi to khi nhỏ, khi vuông khi tròn, vị trí cũng tùy theo đề tài mà sắp đặt. Nếu như đá có hoa văn thì người ta không để nghiễn trì nơi đó mặc dù nghiên nào cũng phải có nơi chứa mực, không có không gọi là nghiên.
4.3. Nghiễn ngạch (硯額)
Còn gọi là nghiễn đầu chỉ phần trên của chiếc nghiên là nơi có thể khắc thêm hoa văn, họa tiết cho thêm phần mỹ thuật và giá trị.
4.4. Nghiễn cương (硯崗)
Nghiễn cương là cái gờ nổi lên trong nghiễn trì, còn có tên là “bụng La Hán” cốt để khi mài mực mực sẽ chảy theo hai bên xuống nghiễn trì, cũng là chỗ để người ta vuốt bút. Nhiều chiếc nghiên không tạo nghiễn cương nhưng tạc một cành hoa, một con trâu, hay một hoa văn thay vào cho thêm vẻ mỹ thuật.
4.5. Nghiễn biên (硯邊)
Nghiễn biên là cạnh nghiên, giữ cho mực khỏi tràn ra ngoài khi mài. Tùy theo hình thể và chất liệu đá, người ta có thể điêu khắc nhiều loại hoa điểu nhưng phần lớn chỉ dùng dao vạch sâu thành hoa văn.
4.6. Nghiễn trắc (硯側)
Nghiễn trắc là bên hông chiếc nghiên cũng được dùng làm nơi trang sức, nhất là các loại nghiên vuông, nghiên chữ nhật.
4.7. Nghiễn diện (硯面)
Ngoài phần nghiễn đường là nơi mài mực, công dụng chính của chiếc nghiên nhiều người còn tạc những hình thể rất mỹ lệ khiến cho chiếc nghiên biến thành một tác phẩm điêu khắc mà quên đi dụng ý chính của nghiên là mài mực. Phần hoa lá cành đó gọi là nghiễn diện nay cũng được nhiều người quan tâm.
4.8. Nghiễn bối (硯背)
Còn gọi là đáy nghiên tức mặt dưới của chiếc nghiên, thường được dùng để khắc chữ, đề khoản để biết được ai là tác giả hay chủ nhân gửi gắm điều gì. Cũng có khi khắc thơ văn, ấn triện, đề bạt nên nhiều khi chỉ là khắc nông (thiển điêu) và là phần phụ cho chiếc nghiên.
4.9. Nghiễn cái (硯蓋)
Tức là cái nắp bên trên, có khi là một phần của chiếc hộp đựng nhưng có khi chỉ là một mảnh gỗ để đậy cho mực không bị khô. Tuy vậy nhiều chiếc nghiên có những nắp đậy rất vừa vặn và mỹ thuật.
5. Làm nghiên

Tùng Hoa nghiễn
(trong bộ sưu tập của gia đình Khổng Tường Hi) [9]
Từ khi còn là một cục đá trong mỏ, đến khi hoàn thành một chiếc nghiên phải qua nhiều công đoạn, nhiều công phu. Tựu trung phải qua những tiến trình sau đây: kiếm và lấy đá, chọn vật liệu, thiết kế, điêu khắc, làm hộp đựng, mài cho nhẵn và sau cùng là vuốt sáp.
5.1. Kiếm đá (採石)
Việc đầu tiên để làm nghiên đương nhiên là phải tìm cho được một khối đá thích hợp. Người thợ chui vào hang dùng xà beng nạy những miếng đá rồi đem đến những xưởng công nghệ, ở đó sẽ phân loại để tìm xem những phần nào có thể làm nghiên. Việc tìm được một khối đá thích hợp cho việc đục nghiên khó như thế nên người ta đã có câu: “Một cân đá tốt đáng giá nghìn vàng” (Giai thạch nhất cân, giá trị thiên kim).
5.2. Chọn đá (選料)
Chọn đá người ta xem đá nào tốt để phân loại gọi là “duy liệu” (維料). Người thợ lấy đá đem ngâm nước để xem có hoa văn thiên nhiên hay không, chẳng hạn đá Đoan Khê thì có những mắt trong gọi là ngư não, có vân đá hay những văn sọc gọi là vân lá chuối (蕉葉白); Thiệp thạch thì có kim vựng, la văn, kim tinh điểm, loát ti la văn; Thao Hà thạch thì có áp đầu lục, hoàng tiêu, lục thạch …
Sau đó người thợ chia ra thành đá loại nhất, loại nhì, loại ba. Hạng nhất là đá mịn mặt, có nhiều hoa văn được dùng để làm các loại nghiên cao cấp, loại nhì là loại đá mịn, thuần chất, ít văn lý thường dùng để làm nghiên có khắc hoa văn, loại ba là đá thô và nhiều ngấn không khác gì một cục đá thường, dùng đục những loại nghiên thực dụng, rẻ tiền.
5.3. Thiết kế (設計)
Thiết kế còn gọi là cấu tứ (構思) tức là quan sát, nghiên cứu xem chất đá, màu sắc, các loại hoa văn và các vết lỗiđể xem phải làm thế nào có được một chiếc nghiên vừa mỹ thuật, vừa tiện dụng.
Việc thiết kế một chiếc nghiên sẽ quyết định phần lớn giá trị sau này vì việc tạo hình, điêu khắc, kỹ pháp đều tùy thuộc vào việc nhìn ra những yếu tính của cục đá và phối trí thế nào cho những đặc tính đó nổi bật, chẳng hạn gò cho mắt đá thành vầng trăng, vân đá thành sóng nước …
5.4. Điêu khắc (雕刻)
Sau khi đã có một phác đồ, trước khi bắt đầu người thợ dùng dao khắc vẽ đơn giản những đồ hình mà người ta dự định sẽ tạc lên khối đá, nhất là sắp xếp để chủ đề phù hợp với những gì đã phác họa. Người thợ cũng phải tính toán chỗ nào sẽ phải đục sâu, chỗ nào đục nông hay chỉ khắc đường vẽ và tùy từng chỗ mà dùng dao, đục để sao cho lên xuống đúng như dự định.
Vì có nhiều vùng, nhiều loại đá và phong khí mỗi thời một khác, việc điêu khắc trên nghiên cũng thay đổi. Những nhà nghiên cứu còn chia ra thành nhiều phái khác nhau như: Việt phái (đá Quảng Đông, tức Đoan Khê), Huy phái (đá Thiệp Châu), Tô phái (Tô Châu), Cung đình (kiểu nghiên trong cung vua) … mỗi phái có một khuynh hướng và mục tiêu.
5.5. Làm hộp (配盒)
Một chiếc nghiên đẹp thường phải đi kèm một chiếc hộp đựng vừa vặn, khéo léo để vừa trưng bày vừa bảo vệ cho món đồ quí. Hộp thường được làm sao cho vừa khít với chiếc nghiên, nếu như nghiên hình dáng bất thường thì hộp cũng phải đục theo hình dáng đó.
Người Việt có câu “người đẹp vì lụa”, ý nói đồ trang điểm bên ngoài cũng là một yếu tố quan trọng để tăng thêm nhan sắc. Người Trung Hoa cũng có câu “người mặc áo mới, ngựa có bộ yên” (人穿新裝, 馬配鞍) nên nghiên đẹp cũng cần một cái hộp mỹ thuật để làm nổi bật giá trị của món đồ và nhất là để giữ gìn khỏi vô tình bị đụng chạm, sứt mẻ.
Vật liệu để làm hộp đựng nghiên cũng rất đa dạng, tùy theo sở thích và sáng kiến của từng người và cũng tùy theo sự phong lưu của chủ nhân mà có thể làm bằng vàng, bạc, ngọc, đồng, sắt nhưng thông thường nhất là bằng gỗ. Theo Nghiễn thư thì:
Hộp đựng nghiên tốt nhất là bằng gỗ phủ sơn, kế đến là gỗ tử đàn. Hộp sơn tốt hơn đàn hương vì không thấm nước … [10]
Các nghiên quí phần lớn hộp làm bằng gỗ tử đàn, hồng mộc [11], hoàng hoa lê … các loại gỗ hiếm, nhiều hộp còn khảm xà cừ, khảm ngọc … hoặc khắc những bài minh để tăng phần giá trị.
Gỗ làm hộp xấu tốt tùy theo giá trị của nghiên, nghiên tốt không làm hộp xấu mà nghiên tầm thường cũng không ai làm hộp bằng gỗ quí. Mua nghiên trên mạng cũng có thể nhìn chiếc hộp mà lượng định phần nào giá trị của chiếc nghiên đi kèm với nó.
Chế tạo hộp đựng nghiên nay vẫn tuân theo qui luật của thời Minh – Thanh, nắp hộp cao hơn đáy, thường là 3/5 và 2/5 (nếu bỏ nghiên riêng ra ngoài, để hai phần nắp và đáy cùng trên một mặt phẳng). Đáy hộp cũng thường có thêm 4 chân đều nhau hay móng cọp nghĩa là ba chân ở trên, một chân ở dưới. Chân hộp thường mỏng gọi là bình để cước (chân đáy ngang).
5.6. Chà nhẵn (打磨)
Ngày nay việc mài nghiên hay đánh bóng các điêu khắc dùng cả hai loại, máy chạy điện và thủ công, dùng đá mài hay giấy nhám, thô hay mịn tùy công đoạn. Việc mài bóng không nên dùng sức quá nhiều mà phải kiên nhẫn vì chà mạnh có thể làm những chỗ điêu khắc mỏng manh bị sứt mẻ.
Nghiên càng phức tạp thì công việc mài dũa, đánh bóng và tạo hình càng nhiều công phu, trị giá sau cùng cũng vượt ra khỏi chủ đích của việc làm một công cụ để mài mực.
5.7. Bôi sáp (打蠟)
Sau khi tác phẩm đã qua mọi công đoạn, người ta sẽ phủ lên trên khối đá một lớp sáp, trước là bảo vệ chiếc nghiên khỏi bị phong hoá, sau là khiến cho mặt đá mịn màng và tươi nhuận. Những văn lý hay vết khắc nhỏ khi đó hiện ra rõ ràng hơn, chất đá cũng trở nên sống động. Việc bôi sáp chỉ nên phủ một lớp mỏng, bôi quá nhiều có thể phản tác dụng, tưởng như muốn che dấu những khuyết điểm.
(còn nữa)
Nguyễn Duy Chính*
* California, Hoa Kỳ.
………………………………….
[1] Còn đọc là Mễ Phế
[2] Còn đọc là Hấp nghiễn
[3] Trịnh Gia Diệp (1997). “Tây Thanh nghiễn phổ cổ nghiễn” (西清硯譜古硯). Đài Bắc: Cố Cung Văn Vật Nguyệt San số 167, February, tr. 23-4.
[4] Phép vẽ của Trung Hoa không vẽ bóng (shadow) nên trông phẳng. Hội hoạ theo lối Tây phương có viễn cảnh và tô bóng để có chiều sâu do các giáo sĩ Âu châu đem vào nhưng cũng không mấy người học hỏi và áp dụng.
[5] Tôn Thư An (2000). Trung Quốc bác vật biệt danh đại từ điển, tr. 475.
[6] Nghiên này thuộc loại viên hình nghiễn, một chiếc tương tự có in trong Tử thạch ngưng anh (1995) tr. 102. Mặt sau nghiên có hột nổi từ số 1 đến số 9.
[7] Trong Trung Quốc bác vật biệt danh đại từ điển (2000), (tr. 475-6).
[8] Tổng hợp từ The Quintessential Purple Stone (Tử Thạch Ngưng Anh 紫石凝英 – 歷代端硯藝術) The Chinese University of Hongkong, The Art Gallery, 1991, 1995 Hongkong tr. 12 và Dorothy Ko, The Social Life of Inkstones: Artisans and Scholars in Early Qing China, Seattle and London: University of Washington Press, 2017 tr. 2.
[9] Fine Chinese Ceramics & Works of Art (Part I) là danh sách bảo vật đem bán đấu giá ngày 17 Sept. 2015 tại New York, tr. 78. Đây là một phần trong sưu tầm của gia đình Khổng Tường Hi (孔祥煕). Khổng Tường Hi (1880-1867) là chồng của Tống Ái Linh (宋藹齡) (1889-1973) là một trong ba chị em nổi tiếng của Trung Hoa Dân quốc (hai người còn lại là Tống Khánh Linh, vợ Tôn Dật Tiên và Tống Mỹ Linh, vợ Tưởng Giới Thạch). Khổng Tường Hi là hậu duệ của Khổng Tử, được coi như một trong những người giàu nhất Trung Hoa thời Dân quốc.
[10] 藏硯最好用木制的印匣… 匣用漆素為上,次用紫檀為雅;漆滕于檀香,不滲水氣故也…
[11] Rosewood còn gọi là toan chi酸枝, Dalbergia cochinchinensis.