Nguyễn Duy Chính: Nghiên mực (Kỳ 3)

Tác giả: Nguyễn Duy Chính

7.21. Kim Tinh tống nghiễn (金星宋硯)

Sản xuất ở tỉnh Giang Tây, có nhiều loại mắt như miêu nhãn, phong nhãn, kim khuyên, kim hoa, lãng văn …, lại theo văn mà xếp loại thì có kim vựng, ngân hoàn, mi tử kim tinh, ngư tử kim tinh … Đá này gõ tiếng kêu như chuông, hà hơi vào thì tụ như đám sương mù nên được nhiều người ưa chuộng.

7.22. Kỳ Dương nghiễn (祁陽硯)

Sản xuất tại huyện Kỳ Dương, tỉnh Hồ Nam. Theo Hồ Nam thông chí thì đá Kỳ Dương màu lục rất tốt, tuy không cứng lắm nhưng mịn. Cũng có đá màu tía hồng, vân như hình sơn thủy, lắm chỗ thành kim bào ngọc đái hay vằn xanh chạy ngang gọi là cẩm đái. Vì đá Kỳ Dương nhiều màu sắc, lắm vân lạ nên nhiều người thích, kẻ gian hay giả làm Đoan thạch để đánh lừa người mua.

7.23. Cúc hoa nghiễn (菊花硯)

Sản xuất tại Hồ Nam, có từ đời Càn Long, trên mặt đá thường có động vật hoá thạch, lại có những lớp đá trắng như hình hoa cúc. Hình hoa cúc cũng nhiều kiểu khác nhau được đặt tên kim ngân cúc, giải trảo cúc, quí phi kiểm, trúc diệp cúc, kim tiền cúc … Về tư thái có bông còn chum chúm sắp nở, có bông lại thịnh khai hết cỡ trông rất lạ mắt.

7.24. Giả nghiễn (硯)

Sản xuất tại huyện Tu Thủy, tỉnh Giang Tây vì sắc đá đỏ chót như son nên có tên này. Giả nghiễn cùng với La Văn nghiễn, Long Vĩ nghiễn, Kim Tinh nghiễn là bốn loại danh nghiễn của tỉnh Giang Tây.

7.25. Hạ Lan nghiễn (賀蘭硯)

Dùng đá trên núi Hạ Lan, Ninh Hạ chế tạo thành. Hạ Lan nghiễn bắt đầu từ đời Khang Hi nhưng trở nên nổi tiếng từ đời Càn Long. Ninh Hạ phủ chí (1780) đời Càn Long chép: “Ở thạch khẩu Cổn Chung, núi Hạ Lan có ba ngọn núi đứng thẳng hình như ba cây bút, bên dưới có đá có thể dùng làm nghiên”.

Đá núi Hạ Lan phần lớn màu tím đỏ, có mắt đá, tương tự như đá ở Đoan Khê nên gọi tên là Hạ Lan nghiễn. Đá Hạ Lan có nhiều đặc tính thích hợp cho việc làm nghiên, có nhiều mắt, nhiều vân lạ nên người đời thường truyền tụng “nhất Đoan, nhị Thiệp, tam Hạ Lan” là thế.

7.26. Tư Châu nghiễn (思洲硯)

Tư Châu nghiễn còn được gọi là Tư nghiễn hay Tư Châu kim tinh nghiễn, lấy từ đá ở Quí Châu, nhiều đời được liệt vào hạng “cống phẩm” hay “ngự nghiên”. Trong số nghiên hiện nay giữ trong Cố cung bác vật viện Bắc Kinh còn loại nghiên này. Theo Quí Châu thông chí thì: “Trong núi Đoàn Sơn thuộc Quí Châu có kim tinh thạch, chắc chắn mịn màng có thể làm nghiên”. Theo Tư Châu phủ chí thì đá này sắc màu xanh đen, trong có điểm vàng nhưng kiếm được đá này rất khó vì nằm sâu dưới đáy hồ trong sơn động …

7.27. Thiên Đàn nghiễn (天壇硯)

Còn gọi là Bàn Cổ nghiễn sản xuất tại Tế Nguyên, tỉnh Hà Nam, được dùng làm nghiên từ thời Đông Hán. Tô Thức thời Tống từng có thơ rằng :

石自天壇產出,松煙磨去生香,

雖然質樸古雅,卻能細膩風光。

Thạch tự Thiên Đàn sản xuất,
Tùng yên ma khứ sinh hương.
Tuy nhiên chất phác cổ nhã,
Khước năng tế nhị phong quang.

Đá sản xuất ở núi Thiên Đàn,
Mài mực Tùng Yên thơm ngát.
Tuy rằng chất phác cổ kính,
Nhưng lại mịn màng bóng bẩy.

Đá Thiên Đàn có đến hơn ba mươi loại khác nhau, có nhiều màu sắc tía, vàng, đỏ, lục … lại nhiều văn kỳ lạ, trong đó có loại “tử mẫu thạch” là quí nhất. Loại đá này màu tía thì giống như Đoan nghiễn, màu lục thì lại như Thao Hà, giữa hai màu lại như Hạ Lan, nên rất đẹp.

7.28. Hào Châu nghiễn (號洲硯)

Sản xuất tại Linh Bảo, tỉnh Hà Nam. Linh Bảo trước đây tên gọi Hào Châu nên có tên này. Đá Hào Châu được dùng làm nghiên từ thời Đường, chủ yếu là màu tía nhưng cũng có màu vàng, màu lục. Mễ Phất thời Tống trong Nghiễn sử viết : “Đá Hào Châu, mịn như bùn, màu tía thì rất đẹp, dễ mài mực, dùng lâu khi đá mòn đi thì mài mực có ám mùi bùn”.

7.29. Hoàng Thạch nghiễn (黄石硯)

Sản xuất tại Tiểu Lãnh Sơn, Hà Nam. Nhân truyền thuyết nơi đây là nơi Hoàng Thạch Công truyền thụ binh pháp cho Trương Lương nên mới gọi là Hoàng Thạch Sơn. Đá ở đây có nhiều mắt, đẹp không khác gì đá Đoan Khê nhưng rất khó kiếm. Hoàng Đình Kiên thời Bắc Tống thừng nhiều lần ca tụng chiếc nghiên làm bằng Hoàng Thạch của mình.

7.30. Linh Bích nghiễn (靈璧硯)

Sản xuất tại huyện Linh Bích, tỉnh An Huy. Đá ở đây có màu xanh, chắc mịn khá cứng, gõ vào nghe như tiếng kim loại. Đá ở đây đã bị xói mòn hàng nghìn năm nên hình thù kỳ dị, làm nghiên cũng tốt mà làm giả sơn cũng lạ lùng nhưng thường thì người ta ít đẽo gọt, một phần vì đá rất cứng, phần khác muốn duy trì tính chất thô tạo, phác thực của thiên nhiên.

7.31. Nhạc Thạch nghiễn (樂石硯)

Nhạc Thạch là loại đá khi gõ vào nghe vang như tiếng kim loại sản xuất ở Túc Châu, tỉnh An Huy được tôn xưng là có cả bốn ưu điểm thanh, sắc, thái, chất. Nhạc Thạch phần lớn màu đen nhưng cũng chia ra nhiều cấp độ, đen tuyền, đen xanh, màu tro …

7.32. Thanh Khê nghiễn (青溪硯)

Đá Thanh Khê còn gọi là Long nhãn thạch, sản xuất tại Chiết Giang. Thời Tống Phương Lạp khởi nghĩa từng đi qua đây, nay còn chữ ông viết “Thạch nghiễn trì” ở cửa động. Theo màu sắc, chất loại và phẩm người ta chia làm ba cấp: vân long thạch, trên mặt có văn như hình mây đầy kim tinh; vũ giáp tuyết thạch, đá màu tro có điểm ngân tinh màu trắng; mi tử thạch là trên mặt đá có rất nhiều đường lông màu vàng.

7.33. Việt nghiễn (越硯)

Sản xuất ở Thiệu Hưng, Chiết Giang vốn là kinh đô của nước Việt cũ nên nghiên ở đây gọi là Việt nghiễn. Theo truyền thuyết, Vương Hi Chi, thư pháp gia nổi tiếng viết Lan đình tự dùng nghiên đất Việt, giấy làm bằng kén tằm (tàm kiển), bút bằng râu chuột.

Việt nghiễn có các màu tía, đỏ, tím gan lợn và màu tro xanh, rất đẹp và biến hoá. Hoa văn trên đá lại càng phong phú, chỗ chìm chỗ nổi, khi thì xanh đậm như áo văn nhân, khi thì màu xanh nhạt như tàu lá chuối, khi thì trắng ngư não hay chạy chỉ vàng, vằn vện như da cọp, lại có khi như bào tía, đai ngọc … Bốn danh sĩ đất Ngô đời Minh Thanh là Đường Dần, Văn Trưng Minh, Chúc Doãn Minh và Từ Trinh Khanh đều thích Việt nghiễn nên nghiên này được coi là trân bảo.

7.34. Tây nghiễn (西硯)

Sản xuất tại Tây Khê, tỉnh Chiết Giang, là đá dưới lòng khe suối nên gọi là Tây thạch nghiễn, còn gọi là Tử Kim thạch nghiễn nhưng khác biệt với nghiên ở An Huy, Sơn Đông có cùng tên. Theo nhiều người thì nghiên làm bằng đá dưới suối Tây Khê tốt không kém gì Đoan nghiễn nên trong nhiều đời được dùng làm cống phẩm.

Tây thạch chủ yếu có màu tím đỏ, nhưng trong thớ đá có văn màu xanh, trắng hay vàng nên cũng phân ra tử thạch, tử kim thạch, kim tinh, ngọc đái, tử bào ngọc … nhiều loại.

7.35. Ân Châu nghiễn (恩洲硯)

Sản xuất ở Ân Bình, Quảng Đông vốn thuộc Ân Châu nên gọi như thế. Đá ở đây có hoa văn lạ lùng, loang lổ gọi là hoàng long văn, hoàng phiêu, kim tuyến … Vì màu sắc của Ân nghiễn giống như Đoan nghiễn nên có nhiều người làm giả nghiên Đoan Khê bằng đá ở Ân Châu.

7.36. Liễu nghiễn (柳硯)

Còn gọi là Long Bích nghiễn, sản xuất tại Liễu Châu, Quảng Tây. Thời Đường, Liễu Tông Nguyên tìm ra loại đá này đem về làm nghiên nên từ đó có tên. Đá lấy từ lòng sông Liễu rất khó khai thác nên hiếm có và cũng không thấy sách vở nào nói đến.

7.37. Loa Khê nghiễn (螺溪硯)

Sản xuất tại huyện Chương Hóa, Đài Loan, nơi suối Độc Thủy. Vì dòng suối này quanh co, uốn xoáy như trôn ốc nên còn có tên là Loa Khê, dưới lòng suối có đá làm nghiên gọi là Loa Khê nghiễn.

Đá Loa Khê chủ yếu lấy ở hạ nguồn suối Độc Thủy, đá phần lớn hình tròn, nhẵn nhụi, độ cứng cao nên dùng lâu không mòn. Đá có màu đen, lục, vàng, trắng, đỏ và có cả những màu pha trộn lẫn văn lý trông rất đẹp. Trước đây, khi Đài Loan còn thuộc Nhật Bản, người Nhật khai thác đá Loa Khê đem về chính quốc nên ngày nay nghiên cổ ở Nhật còn nhiều, thường giữ lại nhiều phần thiên nhiên bên ngoài, không đục đẽo.

7.38. Giác Thạch nghiễn (角石硯)

Giác Thạch nghiễn sản xuất tại huyện Tân Phong, tỉnh Sơn Tây có các loại đá do sinh vật hóa thạch, đá giống như sừng có nhiều hoa văn. Giác nghiễn được ghi nhận từ đời Tống, Âu Dương Tu trong Nghiễn phổ chép là: “Giống như sừng tê trắng, trơn nhẵn…”. Giác Thạch là bùn lâu năm kết tầng, cứng và chắc, mịn mặt làm nghiên rất tốt.

7.39. Thủy Xung nghiễn (水冲硯)

Sản xuất tại vịnh Thủy Xung, Hồ Nam. Càn Châu sảnh chí thời Thanh chép : “Nghiên đá Thủy Xung sắc màu xanh nhạt, cứng và mịn dễ mài mực, có hơi màu vàng mà hoa văn thì lại có hình như sơn thủy, hoa cỏ …”.

Dùng nghiên Thủy Xung, mài mực không nghe tiếng, thành mực rất nhanh, dùng lâu mực như phát quang.

7. 40. Đại Đà nghiễn (大硯)

Sản xuất ở Hồ Bắc lấy từ đá ở dưới lòng sông Dương Tử mà người địa phương gọi sông là “đà” nên mới gọi là “đại đà” (sông lớn). Đá ở đây màu xanh thẫm, có nhiều văn, cứng và chắc, gõ lên có tiếng kêu, cũng đôi khi có màu vàng, màu lục. Vì phải lấy từ lòng sông nên loại nghiên này hiếm có.

7.41. Hoạch thôn nghiễn (村硯)

Còn có tên Tàng Thư nghiễn sản xuất ở Hoạch Thôn (nay đổi tên Tàng Thư thôn) tại Giang Tô, cũng gọi là Linh Nham thạch, rất giống Trừng Nê nghiễn. Nghiên Thạch thôn mặt mịn, dễ khắc nên những tác phẩm đục trên nghiên thường linh hoạt, sắc sảo.

7.42. Gia Dục nghiễn (嘉峪硯)

Sản xuất tại núi Quan Hắc, thuộc huyện Gia Dục tỉnh Cam Túc nên gọi là nghiên Gia Dục. Đá ở đây chủ yếu màu xanh tro nhưng cũng có màu khác, mài mực nhanh, không làm mòn bút, thường được du khách mua làm kỷ niệm.

8. Các loại mắt nghiên

Các loại nghiên đá thường chỉ nhiều màu sắc và có vân, riêng đá Đoan Khê lại có những vân hình tròn gọi là mắt đá (thạch nhãn). Mắt đá Đoan Khê hình trông giống như mắt chim, mắt thú màu sắc xanh hay vàng, ngả màu trắng, lớn nhỏ không đều từ khoảng 3-5mm nhưng cũng có khi lên đến 8-15mm.

8.1. Cù dục nhãn (鸜鵒眼)

Cù dục nhãn [1]

Gọi là cù dục nhãn là mắt có hình xanh lục, giữa là chấm vàng, biếc hay xanh lá cây nhiều vòng hình tròn hình dáng trông giống mắt con chim sáo, nên có tên cù dục nhãn. Loại này cũng còn được gọi tên là bát ca nhãn, đường kính khoảng chừng 10mm, có khi lớn đến 20mm, quí nhất là màu xanh cánh trả, phân ra rõ ràng từng lớp, luân quách phân minh, đồng tử rõ rệt.

Tào Dung trong Nghiễn lục viết là “mắt bên ngoài tròn, bên trong màu biếc, đoan chính, hữu thần, tầng lớp phân minh, tùy theo mà có chín, bảy hay năm tầng, giữa là con ngươi, óng ánh như muốn chiếu sáng”.

Cù dục nhãn hiếm nên nghiên mực có cù dục nhãn rất quí và chỉ thấy ở những hầm đá xưa, nay không còn nữa.

8. 2. Anh ca nhãn (鸚哥眼)

Là loại mắt màu cánh trả, trong có đồng tử màu vàng và đen, nhỏ hơn cù dục nhãn nhưng cũng là loại hiếm quí.

8.3. Kê ông nhãn (鷄翁眼)

Cũng còn gọi là công kê nhãn trông giống như mắt gà trống, hình tròn, màu vàng xanh, giữa có đồng tử tương đối rõ rệt.

8.4. Tước nhãn (雀眼)

Tròn giống như mắt chim sẻ, màu vàng lục, to khoảng từ 5-6mm.

8.5. Miêu nhãn (猫眼)

Màu vàng, có một đường kẻ dọc sản sinh ở vùng Bắc Linh sơn.

8.6. Nga nhãn (鵝眼)

Hơi dài chứ không tròn, màu vàng lục, đồng tử màu vàng đen, có cái song trùng đồng (hai con ngươi).

8.7. San hô điểu nhãn (珊瑚鳥眼)

Chung quanh mắt màu xanh, đồng tử thì màu đỏ.

8.8. Tượng nhãn (象眼)

Hình nhỏ và dài, giống mắt voi, màu vàng.

8.9. Tượng nha nhãn (象牙眼)

Màu trắng ngà.

8.10. Nha nhãn (鴉眼)

Mắt tròn, màu vàng, đồng tử cũng màu vàng.

8.11. Lục đậu nhãn (綠豆眼)

Màu và hình dáng giống hạt đậu xanh, không có đồng tử.

8.12. Loa nhãn (螺眼)

Hình không tròn, trông như con ốc, rất thường thấy ở Đoan nghiễn và nhiều nơi khác.

Khi tìm thấy một phiến đá có mắt, nghệ nhân thường gò cho mắt đá phù hợp với hình ảnh mà họ dự định điêu khắc (鑲眼 tương nhãn), chẳng hạn vầng thái dương, mặt trăng, vì sao hay trái châu mà con rồng đang đùa rỡn. Việc sử dụng vân đá hay mắt đá vào toàn cảnh sẽ làm tăng thêm giá trị của chiếc nghiên rất nhiều. Tuy nhiên ngày nay cũng không hiếm người tạo nên mắt giả để đánh lừa khách hàng.

3. Bảo tồn

Cũng có nhiều qui luật mà người dùng nghiên phải tuân thủ để có thể giữ cho chiếc nghiên được lâu bền, không suy giảm những tính chất mà chủ nhân mong đợi.

Trước hết, nghiên lớn nhỏ cũng tùy theo mình dùng để làm gì mặc dầu không có một qui tắc nhất định. Nghiên lớn thường mài nhiều mực dành cho người viết thư pháp, nghiên nhỏ dùng để mài mực viết thường ngày. Những loại nghiên quá nặng phần trang trí thường khó lau chùi, rửa nên dễ bị mực đóng vào những khe đá và mất nhiều công lao làm cho sạch.

9.1. Rửa nghiên

Theo những người chuyên môn, nghiên nên rửa sau khi dùng. Cổ nghiễn khảo chép: “Thà không rửa mặt ba ngày nhưng nghiên không thể không rửa mỗi ngày”. Người ta cũng không dùng những vật liệu thô cứng để chà nghiên mà dùng vải hay bọt biển mềm. Nghiên sau khi rửa phải để cho khô, thường là úp xuống một mảnh vải sạch.

9.2. Không để đọng mực

Mực vốn làm từ keo và than nên những loại mực xấu có thể ăn sâu vào nghiên đá khiến cho mặt nghiên bị rỗ mặt, mất vẻ nhẵn nhụi tươi mát. Mực để lâu cũng mất màu, ngả màu xám viết chữ không đen nhánh. Hai loại tùng yên mặc (mực làm bằng than cây tùng) và du yên mặc (mực làm bằng bồ hóng) tính chất cũng khác nên các chuyên gia khuyên nếu dùng hai loại này nên dùng hai nghiên khác nhau.

9.3. Chà nhẵn

Nghiên dùng lâu cũng thường có những vết ngấn hay trầy xước. Để trừ bỏ những ngấn xước này, người ta thường dùng loại giấy nhám thật mịn để chà lại cho nhẵn. Đá làm nghiên cũng khá cứng nên việc chà láng phải kiên nhẫn, mất nhiều công phu. Sau khi chà bằng giấy nhám, người ta dùng tro bếp trộn nước sền sệt, đánh bóng lại cho thật kỹ rồi rửa sạch.

9.4. Ngâm nước

Nhiều người cho rằng vì các loại đá làm nghiên vốn dĩ ngâm trong nước trước khi đào lên, hoặc trong những hang động ẩm ướt nên lâu lâu cũng nên ngâm trong nước sạch một thời gian để trở lại nguyên trạng.

Nghiên lâu không dùng cũng nên bôi một lớp dầu chùi gỗ mỏng như một hình thức sơn để cách biệt với không khí và cũng làm cho nghiên thêm tươi nhuận.

9.5. Tránh nắng

Nghiên mực cũng không nên để bị nắng chiếu vào lâu, đưa đến tình trạng khô mặt (乾燥), cũng không nên để va chạm với các đồ kim loại, thủy tinh … khiến cho nghiên bị mẻ sứt.

9.6. Mài mực

Người mình có câu: “Mài mực ru con, mài son đánh giặc” ý nói việc mài mực cần chậm rãi điều độ trong khi mài son thì phải nhanh và mạnh tay hơn. Với những người chuộng nghiên quí, việc có được những thỏi son hay thỏi mực tốt là việc cần thiết để cho xứng tầm. Nếu dùng mực đựng trong lọ theo kiểu công nghiệp ngày nay thì cái nghiên không còn cần thiết mà một cái đĩa nông nào cũng có thể dùng được.

Mài mực có hai cách: một là mài thành hình vòng tròn, hai là mài theo chiều thẳng lên xuống. Mài theo hình tròn thì nghiên mòn đều hơn và dùng lâu thường có một vùng lõm xuống như hình chảo.

Nước dùng mài mực nên dùng nước trong tinh khiết và không nên dùng những loại nước bẩn, nước trà … để mài mực hay mài son.

Lăng Kính nghiễn

10. Nghiên thời Thanh

Thời kỳ này, việc điêu khắc nghiên trở thành một bộ môn nghệ thuật, các vùng Tô (Tô Châu), Chiết (Chiết Giang), Hỗ (Thượng Hải) có lối tạo hình thanh tú, thoát tục người đời gọi là Tô phái (蘇派) hay Hải phái (海派). Kế đến vùng Quảng Đông, Phúc Kiến có lối điêu khắc tỉ mỉ, phồn phức được gọi là Quảng phái (廣派) hay Lĩnh Nam phái (岭南派). Bên cạnh đó, nghiên dùng trong cung đình có lối điêu khắc qui củ, chính đáng đượm màu phú quí nên được gọi là Cung tác (宮作). Sau nữa là nghiên của người đọc sách, cốt sao toả được phong vị thư hương, nho nhã và chót hết là nghiên dành cho đại chúng, cần thực dụng, kể cả về chất liệu lẫn công phu cốt giản dị, dễ dùng, dễ bảo trì.

10.1. Việt phái (粵派)

Việt phái chủ yếu là nghiên Đoan Khê, phong cách được mở đầu từ thời Minh, thường gọi là Quảng Tác, lối điêu khắc thường tỉ mỉ, chủ yếu là khắc theo kiểu phù điêu hay vẽ theo đường nông phong cảnh, điểu thú, núi non … Dưới thời Minh – Thanh, Việt phái có những danh thủ như La Phát (羅發), La Trừng Khiêm (羅澄謙), Hoàng Thuần Phủ (黄純甫) và anh em La Tán (羅贊), La Bảo (羅寳) rất nổi tiếng.

10.2. Huy phái (徽派)

Huy phái chủ yếu là Thiệp nghiễn, thời Minh – Thanh cũng chú trọng phù điêu và khắc nông (thiển khắc), phần nhiều tạc nghiên theo hình vuông hay tròn, bên ngoài mặc trì thường rộng rãi.

Dưới thời Minh – Thanh, các danh thủ Huy phái phải kể đến Diệp Khôi (葉瑰), Uông Phúc Khánh (汪覆慶) là nổi tiếng hơn cả.

10.3. Tô phái (蘇派)

Còn gọi là Ngô Môn phái, có phong thái nhã dật, bình đạm để tỏ cái chí cao khiết. Nghiên Tô phái chủ yếu là tùy theo hình thể của tảng đá mà tạo dáng, hoa mỹ nhưng tự nhiên, đi theo bốn đời họ Cố ở Tô Châu bao gồm Cố Đạo Nhân (顧道人), Cố Thánh Chi (顧聖之), Cố Khải Minh (顧啟明), Cố Nhị Nương (顧二娘).

Đến thời Dân quốc, phái Thượng Hải có Trần Đoan Hữu (陳端友) chủ trương tả thực được coi như tách riêng thành một dòng Hải phái. Trần Đoan Hữu (1892-1959), tên Giới, tự Giới Trì, người Giang Tô, khắc nghiên lấy tự nhiên làm gốc như điểu thú, thảo trùng, hoa quả … rất là tinh xảo.

10.4. Cung tác (宮作)

Dưới thời Khang Hi, Càn Long văn phòng tứ bảo do Nội Vụ phủ Tạo biện xứ trưng điệu các thợ khéo từ nhiều nơi vào trong cung nên làm được nhiều nghiên quí, lớn bằng cái chậu cũng có mà nhỏ như bàn tay cũng có. Vua Càn Long còn thành lập riêng một cơ xưởng trong Tạo biện xứ, tập trung thợ khéo chuyên làm nghiên để dùng trong cung và để làm tặng phẩm.

Tạo biện xứ chế tạo nghiên theo sở thích của hoàng đế, họa sĩ vẽ mẫu trình lên, sửa theo ý của nhà vua trước khi đưa xuống cho thợ làm. Vua Càn Long đặc biệt chuộng Tùng Hoa nghiễn và nhiều chiếc do chính ông thiết kế rồi các thợ khéo sẽ theo ý mà chế tạo. Chính từ giai đoạn này, nghiên ra khỏi cái công dụng ban đầu là để mài mực mà trở thành một tác phẩm điêu khắc, phô diễn sự dụng công của người tạo ra nó.

Nghiên mực thường được dùng làm quà, trong danh sách các món quà của hoàng đế nhà Thanh ban thưởng cho sứ thần các nước, nghiên, bút, mực, giấy là những phẩm vật ban tứ không thể thiếu.

11. Bài minh trên chiếc nghiên

Bài minh là văn thơ khắc ngay trên chiếc nghiên hay hộp đựng nội dung có liên quan trực tiếp đến việc tạo ra chiếc nghiên này. Bài minh thường khắc ở bên cạnh hay tại dưới đáy nghiên, bằng nhiều thể chữ chân lệ triện thảo sao cho nghệ thuật. Bài minh cũng được viết theo nhiều loại tản văn, thi từ, chia ra 5 loại khác nhau:

11.1. Minh ký

Thường ghi lại tên người chế tạo hay sử dụng, thời gian, địa điểm làm nghiên.

11.2. Thi từ

Chọn một hay nhiều câu có ý nghĩa để khắc lên mặt nghiên như một hình thức làm đẹp, chẳng khác gì điểm nhãn cho con rồng.

11.3. Dĩ vật vịnh nghiên

Dùng lời lẽ tán thưởng, tỏ cảm xúc về chiếc nghiên.

11.4. Ký sự

Dùng một việc gì đó hay một trải nghiệm để ghi nhớ.

11.5. Quĩ tặng

Dùng nghiên như một món quà tặng, chúc mừng …

Nghiên Trừng Nê thời Thanh với bài minh ở mặt sau
Trịnh Gia Diệp, bđd. tr 31

12. Kết luận

Trong khoảng 20 năm gần đây, khi việc mua bán qua internet phát triển và Trung Hoa mở cửa đưa đến việc hàng hoá ồ ạt xuất cảng ra bên ngoài, nhiều mặt hàng vốn dĩ khó kiếm vào thời xưa thì nay trở nên phong phú có thể mua với giá phải chăng dựa vào ưu điểm nhân công rẻ. Đoan nghiễn, Thiệp nghiễn, nhiều món đục chạm rất tinh vi, vào thời điểm 20 năm trước chỉ từ 50 đến 200 USD, trong khi giá hôm nay có thể lên đến bạc ngàn dẫu khó có thể biết rằng những nghiên ấy dùng vào việc mài mực có thực kỳ diệu như tiếng đồn hay không?

 Tôi cũng đã viết một bài ngắn về Bút Nghiên Giấy Mực để dùng làm phụ lục khi dịch truyện Kim Dung [2]. Văn phòng tứ bảo vốn dĩ là những người bạn thân thiết nhất của nhà nho nên luôn luôn có nhiều điều đáng nói. Người Trung Hoa nhiều khi còn thêm 4 món phụ để thành “bát bảo”.

Riêng về nghiên mực, ở nước ta thời xưa không thấy đề cập nhiều. Hình như chưa có một bản văn cổ nào của nước ta viết riêng về nghiên nói chi đến những tìm hiểu sâu rộng. Bản thân tôi cũng chưa bao giờ tận mắt thấy một cái nghiên cổ trong số ngoạn vật sưu tầm của người quen biết mà chỉ thấy đồ sứ, tủ chè, sập gụ, ấm trà … là những món được ưa chuộng, dễ chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi hơn. Việc tách đời sống ra khỏi không khí hàn mặc cũ khiến chúng ta ít tha thiết đến những gì trước đây vốn gần gũi với nhà nho. Ca dao ta có câu:

Chẳng tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.

Vậy mà trong nhiều năm qua, nghiên bút hầu như hoàn toàn biến mất trong sinh họat hàng ngày, nếu có xuất hiện họa chăng chỉ ở vài nhà nho “mới” trên vỉa hè ở phố “Ông Đồ” trong dịp Tết như để làm cảnh cho sinh họat dân gian thêm màu sắc và cũng lạnh lùng qua đi sau vài ba tuần.

Gần đây, khi đọc một số bài báo cũng thấy có người Việt Nam sưu tầm nghiên cũ nhưng cũng không có được mấy món xuất sắc, thường chỉ là những dụng cụ mài mực hàng ngày chứ không phải là những đặc phẩm trong truyền thuyết. Về nghiên quí ở nước ta, người ta đồn về hai chiếc nghiên cổ trong cung vua được nhắc đến cùng có tên là Tức Mặc hầu, một cái đời Thiệu Trị, một cái đời Tự Đức với nhiều giả thuyết và nghi hoặc về sự thất tung của nó [3]

Ngược lại, nghiên cũ và mới tại những quốc gia khác còn khá nhiều, Trung Hoa thì không nói gì vì đây là quê hương của nghiên bút, nhưng kế đến ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan … cũng không ít. Có lẽ nghiên bút tồn tại được là vì đây là những dụng cụ gắn liền với chữ viết, tuy đã thay đổi nhưng chữ Nhật, chữ Hàn chỉ là biến thể của chữ Hán, còn nước ta thì hầu như đã tách ra khỏi dòng văn mặc cũ để chuyển sang một hướng mới khi dùng mẫu tự Latin.

Việc sưu tầm nghiên nay cũng khá phổ biến nhất là vào thời đại mà giao lưu quốc tế, kinh tế thị trường nở rộ nên nghiên cũng được nhiều người trong giới sưu tầm quan tâm. Tuy nhiên, nghiên mực ít người mua về để dùng mà thường để chưng nên không có cái giá trị “càng cũ càng quí” qua quá trình gắn bó với chủ nhân, nhất là khó có thể chứng minh được nguồn gốc để biết nó giá trị tới mức nào. Về phương diện kỹ thuật hay mỹ thuật, nghiên mới làm thường tinh xảo và đẹp hơn nghiên cũ nhưng nhiều khi đi quá phạm vi thực dụng và chỉ để trưng bày như một tác phẩm điêu khắc hơn là dùng vào việc mài mực, viết chữ. Trên thực tế, số người coi thư pháp, họa pháp như một sở thích đặc biệt ngày nay không nhiều nên việc kén chọn, thưởng ngoạn nghiên tốt cũng giảm đi và sưu tầm nghiên cũng không khác gì việc sưu tầm đá lạ.

Chính vì thế, trong bài viết này, người viết không nhằm cung cấp cho độc giả những chi tiết ly kỳ về những món đồ cổ mà chỉ là một nghiên cứu văn hoá để nhắc đến một người bạn đồng hành của giới đọc sách qua hàng nghìn năm, đóng góp không nhỏ vào việc viết lách của người xưa nhưng càng lúc càng ít quen thuộc.

Tài liệu tham khảo

1. Bách Khoa thời đại, số đặc biệt 290-291 ngày 1 và 15-2 năm 1969.

2. Bộ Ngoại Giao (1967). Vietnamese Realities, Saigon.

3. Bulletin des Amis du Vieux Hué (4e année No 3, Jullet-Sept 1917). Sur un encrier de Tu-duc par E. Gras (207-8) ; Planche XXVIII – L’encrier de Tu-Duc (Aquarelle de M. Ton-That-Sa) (giữa trang 208-209) ; L’encrier de S. M. Tu-Duc : Traduction des inscriptions par Ngô-Đình-Diệm, cửu phẩm au Tân Thơ Viện, (209-212).

4. Fang, Jing Pei (2004). Symbols and Rebuses in Chinese Art – Figures, Bugs, Beasts, and Flowers. Berkeley/Toronto: Ten Speed Press.

5. Guangdong Provincial Museum và The Art Gallery, The Chinese University of Hong Kong (1995). Tử thạch ngưng anh: Lịch đại Đoan nghiễn nghệ thuật (紫石凝英:歷代端硯藝術). The Quintessential Purple Stone: Duan Inkstones Through the Ages. Hương Cảng Trung Văn Đại Học văn vật quán.

6. Hoa, Từ Tường (華慈祥, 2012). Trung Quốc cổ nghiễn (中國古硯). Thượng Hải: Thượng Hải Nhân Dân xbx.

7. Ko, Dorothy (2017). The Social Life of Inkstones: Artisans and Scholars in Early Qing China. Seattle and London: University of Washington Press.

8. Lâm, Diệc Anh (林亦英, 2002). Nam bang văn vật: Quảng Đông truyền thống công nghệ (南邦文物: 廣東傳統工藝) [Gems from The South – Traditional Crafts of Guangdong Province] The University of Hong Kong.

9. Liễu, Tân Tường (柳新祥, 2011). Trung Quốc nghiễn đài thu tàng vấn đáp (中国砚台收藏问答). Trường Sa: Hồ Nam Mỹ Thuật xbx.

10. Mỹ thuật từ lâm, Công nghệ mỹ thuật (美术辞林·工艺美术) (1989). Thiểm Tây: Nhân Dân Mỹ Thuật xbx.

11. Nguyễn, Duy Chính (2018). Bút Nghiên Giấy Mực. Tp. HCM: Văn Hoá – Văn Nghệ.

12. Quốc lập Cố Cung bác vật viện (國立故宮博物院, 1990). Văn vật quang hoa (1) (文物光華). Đài Bắc: Quốc lập Cố Cung bác vật viện.

13. Tôn, Thư An (孙书安, 2000). Trung Quốc bác vật biệt danh đại từ điển (中国博物別名大辞典). Bắc Kinh: Bắc Kinh xbx.

14. Thái, Văn Kiểm (1957). Viet Nam: Past and Present (không đề nơi in).

15. Thái, Văn Kiểm (1956). Viet-Nam d’hier et d’aujourd’hui (ấn hành dưới sự bảo trợ của Bộ Quốc gia Giáo dục) Saigon.

16. Trịnh Gia Diệp (1997). “Tây Thanh nghiễn phổ cổ nghiễn” (西清硯譜古硯). Đài Bắc: Cố cung văn vật nguyệt san, số 167, February.

17. Viện Sử học (Viện KHXHVN) (2007). Đại Nam thực lục (tập sáu). Hà Nội: Nxb. Giáo Dục.

18. Vương, Hồng Sển (1995). Hơn nửa đời hư, California. Văn Nghệ.

19. WM. Ingraham Kip (1875). Historical Scenes from the Old Jesuit Missions. Anson D. F. Randolph and Company, New York.

20. Christie’s Catalogue (2015), Fine Chinese Ceramics & Works of Art (Part I) New York 17 Sept.

21. Ngô Lạp Cốc (吴笠谷, 2006). Nghiễn trước Ô Long (砚著乌龙) – Trung Quốc trừng nê cổ giám thưởng chứng ngụy (中国澄泥古鉴赏证偽). Bắc Kinh: Tạp chí Thu Tàng Gia (收藏家) Collectors (10/120).

22. Hà Hồng Nguyên (何洪源, 2006). “Quan chu văn chấn hội họa dữ nghiễn thạch tùy bút” (观朱文震绘画与砚石隨笔). Bắc Kinh: Tạp chí Thu Tàng Gia (收藏家) Collectors (10/120).

Nguyễn Duy Chính*

* California, Hoa Kỳ.

……………

*Nguyễn Duy Chính: Nghiên mực (Kỳ 1)

* Nguyễn Duy Chính: Nghiên mực (Kỳ 2)

[1] Hình các loại mắt, nguyên bản Guangdongsheng zhiliang jishu jianduju (廣東省質量技術監督局) Guangdongsheng difang biaozhun: Duan yan (廣東省地方標準: 端硯) 2006 trích theo Dorothy Ko, The Social Life of Inkstones (2017) tr. 65

 [2] Bút Nghiên Giấy Mực (TPHCM: Văn hóa – Văn nghệ, 2018), tr. 325-354.

[3] Xem Tạp chí Nghiên Cứu & Phát Triển (Huế) số 1 (155). 2020 (tr. 122-137)

Có thể bạn cũng quan tâm