Nguyễn Gia Kiểng: Thêm một dịp để nhìn lại chế độ cộng sản

Tác giả: Nguyễn Gia Kiểng
Đường phố Hà Nội tràn ngập màu cờ, biểu ngữ, băng rôn cổ động mừng 96 năm ngày thành lập ĐCS. Photo: Báo Thể Thao & Văn hóa

Hôm nay, 03/02/2026, Đảng Cộng Sản Việt Nam được tròn 96 tuổi. Đó là một tuổi thọ khá cao và cũng là một nghịch lý chất vấn lương tâm của mọi người quan tâm tới đất nước.

Trước hết có thể khẳng định chủ nghĩa cộng sản, hay chủ nghĩa Mác – Lênin, đã ra đời như là một sản phẩm của sự nông cạn. Nó đã ra đời – với Tuyên Ngôn Cộng Sản năm 1848 – vào giữa lúc mà cuộc cách mạng công nghiệp bùng phát tại Châu Âu, gây một cơn điên loạn tinh thần thuận lợi cho các lập luận mỵ dân. Karl Marx đã khai thác một trăn trở đã có ngay từ khi thế giới bắt đầu văn minh, nghĩa là ngay từ khi biết suy nghĩ về tổ chức xã hội và quan hệ giữa người và người. Trăn trở đó là mâu thuẫn nhức nhối giữa những tư tưởng quảng đại coi mọi người đều là anh em và một thực tế xã hội phân biệt những người sung túc và những người nghèo khổ, những chủ nhân và những tôi tớ, những người thống trị và những người bị trị.

Từ 25 thế kỷ trước Phật Thích Ca vì vậy đã bỏ ngôi thái tử để sống cuộc đời hành khất giảng dạy sự từ bi, 5 thế kỷ sau Jesus đã bỏ địa vị trưởng nam của một gia đình quý tộc để rao giảng lý tưởng nhân loại anh em rồi chịu chết trên thập giá. Cả hai đều đã được hàng tỷ người trên khắp thế giới tôn kính như là đại diện của Trí Tuệ Tối Cao và kéo theo hàng triệu tu sĩ trong hàng ngàn năm sống và làm việc cho công bằng xã hội. Rất nhiều nhà tư tưởng lớn trước Marx hàng thế kỷ cũng đã nói lên trăn trở này với tất cả thành tâm. Tóm lại chênh lệch giầu nghèo là một nhức nhối đã có từ rất lâu và đã có rất nhiều người cố gắng và hy sinh để giải quyết nhưng vẫn chưa xong. Tuy vậy những người này đều đủ sáng suốt để ý thức rằng đây là một vấn đề đòi hỏi một cố gắng liên tục chứ không thể có giải pháp dứt khoát vì nó ở ngay trong bản thể của thế giới và con người. Một thí dụ cụ thể là Pierre Joseph Proudhon, một nhà tư tưởng lớn của Pháp cùng thời với Marx và nổi tiếng là cực đoan, tuy coi “của cải là trộm cướp!” (la propriété, c’est le vol!) nhưng cũng nhìn nhận “của cải là tự do” (la propriété, c’est la liberté) và là phương tiện để đương đầu với các bạo quyền. Marx đã rất nông cạn khi huênh hoang quả quyết là đã tìm ra một giải pháp nhanh chóng và dứt khoát bằng đấu tranh giai cấp, mặc dù ông chưa bao giờ định nghĩa được rõ ràng giai cấp là gì. Tôi đã có một bài viết trình bày cô đọng chủ nghĩa Marx, cô đọng nhưng cũng khá đầy đủ vì tuy Marx viết rất nhiều nhưng những ý kiến thực sự lại rất ít (1)

Chủ nghĩa Marx, tóm lược trong Tuyên Ngôn Cộng Sản và lý giải trong Tư Bản Luận của Marx, không chỉ nông cạn mà còn thiển cận. Những khẳng định của nó, dù là tích lũy tư bản hay gia tăng nghèo khổ, đều đã bị thực tế phủ nhận một cách rất dứt khoát ngay khi ông đang viết ra. Không những thế chủ nghĩa Marx còn độc hại vì chủ trương bạo lực và xóa bỏ mọi giá trị đạo đức. Sau cùng dù bản tính rất kiêu căng và ham mê tranh luận Marx cũng đã phải nhìn nhận là mình đã sai, ông nói “Chắc chắn tôi không phải là một người mác xít”. Năm 1875, đại hội của Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức (tên gọi của đảng cộng sản Đức) đã chính thức bác bỏ chủ nghĩa Marx. Tư tưởng của Marx đã bị vất bỏ trên chính quê hương của ông bởi chính đảng lúc đó được coi là xương sống của chủ nghĩa cộng sản.

Từ đó chủ nghĩa Marx liên tục suy thoái. Lenin đã hồi sinh nó khi sang Châu Âu đầu thế kỷ 20 bằng cách sử dụng nó như một biện minh cho những hành động khủng bố vốn là phương thức đấu tranh chính trị của nước Nga và của chính gia đình Lenin (một người anh của Lenin, tên là Alexandre, đã bị xử tử vì tham gia một âm mưu ám sát Nga hoàng). Chủ nghĩa Mác-Lênin đã hình thành như một phối hợp giữa chủ nghĩa Marx và phương pháp khủng bố. Lenin không hề đóng góp một tư tưởng có chút giá trị nào cho chủ nghĩa Marx, ông chủ yếu chỉ phụ họa và hô hào. Những câu nổi tiếng nhất của ông là: “đạo đức là những gì hợp với quyền lợi của cách mạng”; “chính quyền cách mạng là chính quyền do giai cấp vô sản giành được và giữ lấy, chính quyền này không hề bị ràng buộc bởi bất cứ một luật pháp nào”; Chừng nào chúng ta chưa khủng bố – nghĩa là một viên đạn vào đầu ngay tại chỗ – chúng ta sẽ chẳng đạt được kết quả nào cả”.

Tóm lại chủ nghĩa Mác – Lênin là sản phẩm tổng hợp của sự nông cạn, thiển cận, bạo lực, khủng bố và tội ác, bất chấp đạo đức và pháp luật.

Cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga (07/11/1917) thực chất là một cuộc đảo chính cướp chính quyền của một lực lượng khủng bố nhỏ nhưng có tổ chức chặt chẽ, tiếp theo là sự tàn sát thẳng tay mọi thành phần phản kháng. Thắng lợi của Lenin tại Nga đã đem lại cho chủ nghĩa cộng sản, từ đó được gọi là chủ nghĩa Mác – Lênin, một khí thế mới; nhiều trí thức ở nhiều quốc gia đã ngưỡng mộ và ủng hộ nó chủ yếu vì không biết những tội ác của nó.

Chủ nghĩa Mác – Lênin đã được du nhập vào Việt Nam bởi ông Hồ Chí Minh với tất cả những đặc tính của nó – nông cạn, thiển cận, bạo lực, khủng bố và tội ác, bất chấp đạo đức và luật pháp – nhưng ở một mức độ nghiêm trọng hơn nhiều, kèm theo với sự thấp kém hơn hẳn về cả trí tuệ lẫn tâm hồn. Theo lời kể của chính Hồ Chí Minh ngay khi được đọc Tuyên Ngôn Cộng Sản ông đã sung sướng đến mê sảng mà không hề biết nó đã bị vất bỏ từ gần một nửa thế kỷ rồi. Điều này tiết lộ nhiều về con người và trình độ hiểu biết của Hồ Chí Minh bởi vì Tuyên Ngôn Cộng Sản không chứng minh gì cả mà chỉ gồm những xác quyết như “giai cấp công nhân không có tổ quốc”, “giai cấp vô sản khi nắm được chính quyền sẽ xóa bỏ các biên giới quốc gia”, “chính quyền nói cho đúng chỉ là dụng cụ của một giai cấp để thống trị một giai cấp khác”, hay “giai cấp vô sản đặt nền tảng thống trị của mình trên sự xóa bỏ bằng bạo lực giai cấp tư sản” v.v.. Điều này càng tiết lộ kiến thức và trí tuệ của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản coi ông Hồ Chí Minh là bậc thày tư tưởng của họ như Lê Hồng Phong, Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Phú Trọng v.v.

Đảng Cộng Sản Việt Nam được chính thức thành lập ngày 03/02/1930, sau khi đã long trọng cam kết chỉ có một tổ quốc duy nhất là Liên Xô trong Đại Hội 6 của Quốc Tế Cộng Sản tại Moskva năm 1928 và nổi lên lần đầu tại Việt Nam dưới danh xưng Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ”. Không ngạc nhiên ngay sau khi cướp được chính quyền (cụm từ “cướp chính quyền” do chính họ dùng) họ đã thẳng tay thủ tiêu hàng trăm nghìn trí thức và các đảng viên của các đảng quốc gia. Sự hung bạo còn hơn cả tại Liên Xô. Ngay sau khi làm chủ được miền Bắc, sau Hiệp Định Geneva, họ đã giết ít nhất 172.008 người bị buộc tội là địa chủ theo chính nghiên cứu sau này của chính quyền cộng sản trong đó ít nhất hai phần ba được nhìn nhận là oan, nghĩa là không phải là địa chủ. Một tội ác tày trời như vậy mà những người trách nhiệm, như Trường Chinh, chỉ cần làm một bản tự kiểm. Và cũng không thể quên cuộc nội chiến 30 năm làm đất nước tan tành và 6 triệu người thiệt mạng chỉ để thiết lập chế độ cộng sản. Thế rồi ngay khi giành được chính quyền trên cả nước, 100 năm sau đại hội Gotha, họ đã vội vã đổi tên đảng từ Đảng Lao Động thành Đảng Cộng Sản, đổi quốc hiệu thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và trương lên khắp nơi khẩu hiệu “Chủ nghĩa Mác – Lênin bách chiến bách thắng muôn năm!”. Thật khó tưởng tượng sự mù quáng và thấp kém.

Kết quả là gì? Vào năm 1945 chúng ta là một trong những nước nhiều triển vọng nhất vùng Đông Á, hơn cả Đài Loan và Hàn Quốc, ngày nay chúng ta tụt hậu nửa thế kỷ so với họ, chúng ta xuất khẩu lao động và cô dâu sang họ.

Chính vì bản chất của nó – nông cạn, thiển cận, bạo lực, hung ác, khủng bố, bất chấp đạo đức và luật pháp – mà tất cả các chế độ cộng sản đều đã thất bại trong mọi địa hạt và trên mọi phương diện.

Về mặt kinh tế không một nước cộng sản nào vượt qua được mức thu nhập trung bình để trở thành một nước phát triển với thu nhập cao. Trường hợp Trung Quốc không phải là một ngoại lệ. Ngay đầu thập niên 1970 một học giả lỗi lạc bậc nhất của Pháp, ông Alain Peyrefitte, đã xuất bản cuốn Quand la Chine s’éveillera… le monde tremblera (Khi Trung Quốc thức tỉnh … thế giới sẽ rùng mình). Lý do của Peyrefitte là Trung Quốc có một tiềm năng vô cùng lớn chưa được khai thác bởi chế độ cộng sản. Trung Quốc sau đó quả nhiên đã thức tỉnh, đã bỏ một nửa chủ nghĩa Mác– Lênin để chấp nhận “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và đã đạt được những thành quả ngoạn mục khiến thế giới kinh ngạc nhưng vẫn chưa và sẽ không vượt qua được bẫy thu nhập trung bình, hơn thế nữa còn đang lâm vào khủng hoảng nặng.

Về mặt văn hóa và nghệ thuật trong suốt thời gian tồn tại của các chế độ cộng sản, không một chế độ cộng sản nào có được một sáng tác có gia trị nào, trừ một vài tác phẩm của những người chống đối và bị đàn áp.

Nói tóm lại là không một nước nào có thể có tương lai dưới chế độ cộng sản.

Sau cùng xin chia sẻ một vài suy nghĩ về tương lai.

Tại sao chúng ta đã sa vào vũng lầy cộng sản? Tại sao một đảng được thành lập và đã hành động như thế lại có thể thành công?

Đừng nên đổ lỗi hết cho người cộng sản. Trừ một hai ngoại lệ rất hiếm hoi những người thành lập và lãnh đạo Đảng Cộng Sản đều chỉ có một học thức rất sơ sài, họ là những người vị thành niên về mặt kiến thức và tư tưởng chính trị và cần được cảm thông. Mặt khác đã có rất nhiều trí thức, kể cả những trí thức được coi là lỗi lạc bậc nhất của nước ta, ủng hộ họ và giúp họ thành công. Những người này mới thực sự đáng trách. Đảng Cộng Sản không phải là một tai họa từ trên trời rơi xuống mà là một sản phẩm của lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Trí thức Việt Nam, do văn hóa truyền thống, chỉ say mê tìm kiếm thành công cá nhân rồi quá hài lòng với học vị và địa vị của mình mà không biết rằng tư tưởng và kiến thức chính trị là điều kiện không thể thiếu cho một dân tộc để tránh tai họa và vươn lên. Kiến thức cũng như tư tưởng chính trị đích thực không thể có được chỉ qua sách vở và trường học mà còn cần một sự hiểu biết thấu đáo về thực tại xã hội, những thử thách, những triển vọng và những giải đáp cho những vấn đề của đất nước. Sự hiểu biết đó chỉ có thể có nếu có quyết tâm góp phần vào cố gắng đem lại phúc lợi cho đất nước và đồng bào mình.

Nhưng điều kiện đó cũng chỉ cần chứ chưa đủ. Chúng ta còn cần có sức lực để vượt qua những khó khăn và trở ngại. Sức lực đó không ai một mình có được dù tài giỏi đến đâu. Đấu tranh chính trị không bao giờ có thể là đấu tranh cá nhân cả mà chỉ có thể là đấu tranh có tổ chức.

Lịch sử không phải sắp sang trang mà đang sang trang. Chế độ cộng sản đã đến hồi cuối của giai đoạn cuối của tiến trình cáo chung. Mọi người Việt Nam quan tâm tới tương lai đất nước, nhất là các trí thức, cần suy nghĩ xem mình có thể và nên làm gì. Riêng những anh em đảng viên cộng sản nên ý thức rằng họ không còn lý do nào để tiếp tục đóng góp giữ gìn một chế độ đã là một tai họa cho đất nước, phải chấm dứt để đất nước có tương lai.

Nguyễn Gia Kiểng
(03/02/2026)
         

(1) Nhìn lại chủ nghĩa Mác – Lê Nin
https://thongluan-rdp.online/quan-diem/nhin-lai-chu-nghia-mac-lenin-nguyen-gia-kieng/
          hoặc
https://www.thongluan.blog/2016/12/nhin-lai-chu-nghia-mac-le-nguyen-gia.html

Có thể bạn cũng quan tâm