Tô Thẩm Huy: Nguyễn Du và Long Thành Cầm Giả Ca

Tác giả: Tô Thẩm Huy
Tượng đài hư cấu về dung nhan quan đại thần Nguyễn Du. Nguồn ảnh: wiki commons.

Thăng Long ngày Nguyễn Du trở lại không còn là Thăng Long.  Thăng Long của ông đã mất tên, Thăng Long đã chết. Sài Gòn cũng đã mất tên, Sài Gòn của chúng ta cũng đã chết.  Thì?  Thì xin mời ngoảnh đầu lại 200 năm, cùng Tiên Điền Tố Như ngậm ngùi trước cảnh đổi thay, vân cẩu.

Không rõ Nguyễn Du có sinh ra ở đấy không (1765), nhưng chắc chắn ông đã lớn lên ở Hà Nội, hay đúng ra phải gọi là Thăng Long, vì cái tên Hà Nội ngày ấy đâu đã có (1). Cũng không rõ ngày Nguyễn Du thường nô đùa, chạy nhẩy, ngày ấy Thăng Long đã mấy phố bao phường. Chỉ biết ông lớn lên giữa lúc vận nước liên miên thay ngôi, đổi chủ.  Quyền bính ở đất Bắc hết nằm trong tay anh em họ Trịnh vì tranh giành ngôi chúa mà hãm hại lẫn nhau, lại lần lượt rơi vào tay của Nguyễn Hữu Chỉnh, rồi Vũ Văn Nhậm, đến Ngô Văn Sở, trước khi vào tay Quang Trung khi ông lên ngôi Hoàng Đế đại phá quân Thanh năm 1789, để rồi sau đó lại quy một mối về Gia Long khi ông thống nhất đất nước năm 1802.  Thật là một thời kỳ hỗn loạn.  Ngoài 20 tuổi Nguyễn Du đã phải lánh mình về quê vợ ở Thái Bình, rồi lui về ẩn thân ở nguyên quán Hà Tĩnh, ngày ngày làm Nam Hải Điếu Đồ, kẻ câu cá ở bể Nam, làm Hồng Sơn Liệp Hộ, gã thợ săn trên rặng Hồng Lĩnh.  Ông sống ẩn dật nghèo khổ, bệnh tật suốt 3 tháng mùa Xuân không có tiền thuốc men, tam xuân tích bệnh bần vô dược.  Mãi đến năm 37 tuổi Nguyễn Du mới ra làm quan cho Gia Long.  Cách nay hai trăm năm (1813), ông được Gia Long cử làm chánh sứ đại diện vua nước Nam sang Trung Hoa. Trên đường đi từ Phú Xuân đến Bắc Kinh, ông đã có dịp thăm lại Thăng Long lần đầu sau hai mươi năm xa cách.  Lòng đầy cảm xúc nhìn lại kinh đô cũ với biết bao kỷ niệm, ông viết Long Thành Cầm Giả Ca (LTCGC).  Trước khi đọc Cầm Giả Ca, tưởng cũng nên đọc lại 2 bài thất ngôn Thăng Long ông viết cũng vào dịp ấy:  

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng, Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.  Chưa vào đến cố đô, từ xa ông đã lên tiếng reo mừng:  Kìa là rặng Tản Viên, nọ là giòng Lô Giang, ta sắp về đến Thăng Long rồi.  Nhưng than ôi, vào đến năm cửa ô thì đến là ngỡ ngàng, đau xót. Vị vua Thế Tổ triều Nguyễn muốn xoá hết dấu tích nhà Lê đã san bằng thành xưa, quách cũ (2).  Cả cái tên Thăng Long 昇 龍 là rồng hiện cũng bị cải là Thăng Long 升 隆 hưng thịnh.  Những thiên niên cự thất, nhà cửa tựnghìn năm trước, nay đã biến mất.  Thay vào đó là quan đạo, là dọc ngang đường xá.  Những cố cung, điện đài từ thời Lý Trần nay bị phá đi để xây thành mới.  Đâu là điện Trung Hoà Đại Nội?  Đâu là nơi ngõ cũ ông vẫn chơi đùa cùng bè bạn mỹ nhân, hiệp thiếu?  Đêm nằm giữa lòng Thăng Long ông trằn trọc không sao ngủ, thao thức nhìn vầng trăng cũ soi trên bức tường thành mới.  Âm nhạc ngày trước nay cũng biến mất.  Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.  Sáo đâu, dây đâu mà tiếng nghe nhốn nháo, trõi cả tai thế này?  Chả trách lúc ngồi trên chiếu tiệc ở Thăng Long, nghe lại tiếng đàn ngày trước, nghe lại giòng nhạc vàng của đại nội triều Lê, ông đã viết Long Thành Cầm Giả Ca, Bài Cho Người Gảy Đàn Thành Thăng Long, để ngậm ngùi về người ca kỹ trước những dập vùi của ba đào lịch sử. 

Nhưng có thật là chuyện chỉ giản dị thế không?  Có thật chỉ là nỗi tiếc thương cho một kiếp má đào tài hoa bạc mệnh?  Hay vì đang làm quan cho Gia Long, không thể bày tỏ lòng luyến tiếc cái vang bóng của triều Lê ngày trước, nên Nguyễn Du đã phải mượn hình ảnh người gảy đàn để nhỏ lệ khóc thương cho hồn ma bóng quế của đất đế kinh ngàn năm thanh lịch?  Thành quách thôi di nhân sự cải, Kỷ xứ tang điền biến thương hải.  Thành quách còn bị đổi dời, huống gì là phận người trôi dạt.  Bao nương dâu rồi cũng nhạt nhoà thành bể khơi.  Thuấn tức bách niên năng kỷ thì, Thương tâm vãng sự lệ triêm y.  Một chớp mắt, một làn hơi, một trăm năm, dài ngắn khác nhau là bao.  Những việc trôi qua làm ta đau lòng, nước mắt tuôn đẫm áo.  Nhiều người đã thêu dệt nên mối tình lãng mạn thời trai trẻ giữa Nguyễn Du và người con gái gảy đàn ấy.  Thậm chí có người lại còn trách ông vì muốn giữ thể diện của đường đường chánh sứ nên song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, khả liên đối diện bất tương tri, mở trừng hai mắt mà không dám nhìn mặt người xưa.   

Tôi không tin là thế.  Tôi cho hiểu như thế là không phải với Nguyễn Du.  Tôi không tin là đã có gì giữa họ.  Nàng không đơn thuần là một cầm giả, không phải là người tình cũ, mà là hồn phách của cả kinh thành Thăng Long.  Trở về Thăng Long sau mấy mươi năm xa cách, mất Thăng Long như Thăng Long đã mất tên, lòng Nguyễn Du lúc bấy giờ hẳn đang dạt dào một trời hội cũ, chứ đâu riêng lẻ gì một bóng hồng nhan.  Thiên niên phú quý cung tranh đoạt, tảo tuế thân bằng bán tử sinh.  Nhìn cảnh vân cẩu đổi thay, do việc tranh giành quyền lực của các dòng họ, cảnh con người bị xô dập trong giông bão, những người thân cũ đã chết mất một nửa, nhớ lại những giấc mộng của một thời hùng tâm tráng trí, ông hẳn đau đớn nhìn Thăng Long của ngày xưa đã chết.   Tằng lăng trường kiếm ỷ thiên thanh, cây kiếm dài ngày xưa ngạo nghễ tựa lưng vào trời xanh, tự bao giờ đã Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm, đã biến thành cây kiếm cụt vô tích sự? Văn tự hà tằng vi ngã dụng?  Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy, hay chỉ làm mộng thêm đau xót, làm bể dâu thêm thắt ruột, day lòng.  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng.  Mở trừng hai mắt sao chẳng thấy gì ngoài trống không mộng tưởng!  Khả liên đối diện bất tương tri.  Thương thay, ta ngồi đây giữa Thăng Long mà nào có thấy Thăng Long, ngồi đây giữa Thăng Long mà Thăng Long nào có thấu cho lòng ta !  Chao ôi, làm người thật chẳng khó lắm sao !

(TTH, Trung tuần tháng 10, 2013)

Hình minh họa: AI

Chú Thích:

  1. – Minh Mạng đổi tên Thăng Long ra Hà Nội năm 1831, 11 năm sau khi Nguyễn Du mất.
  2. – Năm 1805, Gia Long cho phá Hoàng Thành Thăng Long để xây thành mới, nhỏ hơn, hình vuông, theo mô thức của Pháp.  Thành mới xây xong năm 1812 một năm trước khi Nguyễn Du trở lại Thăng Long.
  3. – Long Thành Cầm Giả Ca là bài đầu trong tập Bắc hành Tạp Lục, gồm 131 bài thơ chữ Hán, ghi lại những cảm tưởng của Nguyễn Du trên đường đi sứ, nhìn thấy cảnh sống cơ cực, nghèo khổ của người dân Trung Hoa giữa đám quan lại tham ô, ăn sung, mặc sướng, hay ghi lại những lời ông lên tiếng luận công, kể tội các nhân vật trong lịch sử Trung Hoa mỗi lần ghé thăm các di tích cũ, làm giới sĩ phu Trung Hoa phải ngả nón thán phục.  Những người cầm quyền ở Hà Nội hôm nay đang thương thuyết với giới quan lại Bắc Kinh, những người ấy có đủ sở học để làm các quan chức Trung Hoa kính phục, hay chỉ làm họ xem người phương Nam là một lũ man di cần được giáo hoá? Giới trí thức trong nước không phải là ít, nhưng vận mệnh dân tộc sao cứ mãi điêu linh, khốn khó?
  4. – Nguyên tác 2 bài Thăng Long:
     Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
    Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
    Thiên niên cự thất thành quan đạo
    Nhất phiến tân thành một cố cung
    Tương thức mỹ nhân khan bão tử
    Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
    Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
    Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung
     
    Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
    Do thị Thăng Long cựu đế kinh
    Cù hạng tứ khai mê cựu tích
    Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
    Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
    Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
    Thế sự phù trầm hưu thán tức
    Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh
    傘 嶺 瀘 江 歲 歲 同
    白 頭 猶 得 見 昇 龍
    千 年 巨 室 成 官 道
    一 片 新 城 沒 故 宮
    相 識 美 人 看 抱 子
    同 遊 俠 少 盡 成 翁
    關 心 一 夜 苦 無 睡
    短 笛 聲 聲 明 月 中
     
    Kìa núi Tản, sông Lô, bao năm rồi vẫn thế,
    Ta nay đầu đã bạc còn được về thấy lại Thăng Long.
    Dinh thự tự ngàn năm trước giờ biến thành đường xá!
    Tường thành mới xây xóa mất dấu cung điện ngày xưa!
    Các người đẹp quen biết ngày ấy giờ tay bồng tay bế,
    Trẻ nhỏ cùng chơi đùa thuở trước giờ già hết cả rồi.
    Cả đêm nằm thao thức, khổ tâm không sao ngủ,
    Tiếng sáo nghe văng vẳng dưới ánh trăng thanh.
     
    Vầng trăng ngày trước đang soi lên bức tường thành mới.
    Thăng Long, kinh đô của bao triều đại cũ là đây ư?
    Đường xá sao dọc ngang bốn phía, xóa mờ dấu tích cũ,
    Đàn sáo phút chốc nhốn nháo những âm thanh khác lạ.
    Phú quý tự nghìn xưa vẫn là miếng mồi giành giật nhau.
    Bè bạn từ bao năm cũ nay nửa còn, nửa mất.
    Việc đời vốn chìm nổi, thở than mà làm gì.
    Trên đầu ta tóc cũng bạc trắng hết rồi.
    古 時 明 月 照 新 城
    猶 是 昇 龍 舊 帝 京
    衢 巷 四 開 迷 舊 跡
    管 弦 一 變 雜 新 聲
    千 年 富 貴 供 爭 奪
    早 歲 親 朋 半 死 生
    世 事 浮 沉 休 嘆 息
    自 家 頭 白 亦 星 星

     Kìa núi Tản, sông Lô, bao năm rồi vẫn thế,
    Ta nay đầu đã bạc còn được về thấy lại Thăng Long.

    Long Thành Cầm Giả Ca
    龍 城 琴 者 歌  阮 攸
    Bài Cho Người Gảy Đàn Thành Thăng Long


    Tựa: Nguyễn Du tự viết lời tựa, kể lại việc gặp gỡ người cầm giả một thời lừng danh ở Thăng Long.

    Người gảy đàn ở Thăng Long ấy tên họ là gì không ai rõ.  Nghe nói ngày còn nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn (đàn nguyệt) trong đội nữ nhạc của vua Lê.  Khi quân Tây Sơn dấy lên, đội nữ nhạc ấy lớp chết, lớp tiêu tán. Nàng trôi dạt đây đó, dạo đàn nơi quán chợ.  Những khúc nàng gảy vốn là nhạc trong cung vua triều trước (nhà Lê), mấy ai đã được nghe.  Quả là tiếng đàn lừng danh, hay nhất một thời.
    Ngày còn trẻ đến kinh đô thăm người anh (Nguyễn Nễ, bấy giờ làm quan cho Tây Sơn) tôi ở trọ cạnh hồ Giám (hồ Gương), nơi quan quân Tây Sơn triệu tập mấy chục đào nương ca hát.  Trong đám ca kỹ ấy nàng nổi bật với tiếng đàn điêu luyện, đã hát hay, lại khéo pha trò, làm cử toạ say mê điên đảo, tranh nhau khen thưởng, vàng lụa chất đầy cả sân.  Rượu ban đến đâu, nàng uống cạn đến đấy. Tôi đứng khuất đằng sau không nhìn rõ mặt nàng.  Tiệc xong, gặp lại ở nhà anh tôi, thấy nàng người thấp, má bầu, trán dô, mặt gẫy, không đẹp lắm nhưng khéo trang điểm, thân hình tròn trĩnh, làn da trắng, mày thanh má thắm, lụa biếc xiêm hồng, đôi mắt đến là sắc lạnh, dễ ai lọt vào được.  Nàng uống rượu liền tay, nói đùa khanh khách. Tại nhà anh tôi nàng say tuý luý, nằm lăn ra đất, nôn mửa đầy sân. Đám chị em có lắc đầu chê cười nàng cũng không lấy làm điều.
    Ít lâu sau tôi dọn vào Nam (đến Phú Xuân, làm quan cho Gia Long).  Bẵng đi mấy mươi năm, mãi đến mùa xuân năm nay trên đường phụng mệnh đi sứ sang Trung Hoa, tôi mới có dịp trở về Thăng Long.  Chư vị quan nhân bầy tiệc tiễn chân tại dinh Tuần Phủ, lại cho gọi cả mấy mươi ca kỹ đàn ca, múa hát.  Tôi chẳng biết tên, quen mặt người nào.  Chợt ngân lên tiếng đàn nghe trong trẻo lạ thường, tôi giật mình nhìn lại, thấy người ấy mặt gầy, thân héo, đen đủi như ma, áo quần tả tơi, may bằng vải thô, lại vá nhiều mảnh trắng, lặng ngồi nơi cuối chiếu, không cười, chẳng nói. Cảnh tượng trông đến ngược đời.  Tôi không chắc là ai, nhưng giọng đàn nghe quen lắm, xáo động hết tâm tư. Tiệc xong, tôi hỏi thăm thì đúng là người gảy đàn ngày trước. Chao ôi, người ấy giờ sao lại đến nỗi này!  Tôi đứng ngồi, cúi ngửa chẳng yên, lòng bồi hồi bao chuyện hôm nay, bao điều ngày cũ.  Kiếp người dài ngắn luống trăm năm, mà vinh nhục buồn vui thật chẳng biết đâu lường.  Từ biệt Thăng Long lên đường rong ruổi (đi Bắc Kinh), tôi ngậm ngùi viết mấy lời hòng gửi gắm nỗi niềm.  (TTH chuyển ngữ)

    Tiểu Dẫn:
    Long Thành cầm giả bất tri tính thị.  Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi cựu nhạc tử tán.  Kì nhân lưu lạc thị triền, hiệp kĩ dĩ ngao thuộc tản bộ.  Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn.  Toại xưng nhất thời tuyệt kĩ.
    Dư thiếu thời tham huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch triếp tận.  Triền đầu vô toán, kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột, diện ao, bất thậm lệ, cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thúy tiêu thường.  Xước xước nhiên hữu dư vận, tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã.
    Hậu sổ tải dư tòng gia nam quy, bất đáo Long Thành nhược thập niên hĩ.  Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ.  Kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kì nhân nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kì trạng đãi bất kham giả.  Bất phục tri vi thùy hà, duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán chất chi nhạc nhân tức kì nhân dã.  Ta hồ ! Thị nhân hà chí thử da!  Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên nhân ca dĩ thác hứng.

    Tô Thẩm Huy
     

Có thể bạn cũng quan tâm