

“ Thơ Tình Lê Mai Lĩnh” được in lần thứ I do NXB Ý Trời ấn hành năm 2024, cuối năm 2025, “Thơ Tình Lê Mai Lĩnh” được NXB Love cho tái bản khi tác giả của nó, thi sĩ Lê Mai Lĩnh, đã bước sang lứa tuổi… 83. Điều ngạc nhiên là “Thơ Tình” của một “ông già 83 tuổi” vẫn được đông đảo các bạn trẻ ủng hộ và tìm đọc!
Tập thơ dày 140 trang, do Võ Phú trình bày bìa và layout, gồm có 59 bài thơ, nhà văn Trương Vấn viết thay lời giới thiệu và các bài viết bình luận, cảm nhận về thơ Lê Mai Lĩnh của nhà văn Trương Anh Thụy, nhà thơ Trần Trung Đạo, nhà thơ Phan Xuân Sinh và có phần phác thảo về tiểu sử của thi sĩ, nhà văn, nhà báo Lê Mai Lĩnh, tức thi sĩ Sương Biên Thùy trước 1975 của Miền Nam Việt Nam.
“Thơ Tình Lê Mai Lĩnh” là tác phẩm thứ 27 của ông kể từ tác phẩm đầu tay “ Nỗi buồn nhược tiểu” do NXB Hoa Sen phát hành năm 1963 cho đến nay. 62 năm cho cuộc sống “mê mệt, đắm đuối” cùng với con chữ và văn chương quả thật là đáng nể…Tất nhiên nếu bây giờ có một… độc giả nữ trẻ nào đó, đọc thơ Tình của ông, rồi hỏi tuổi, theo kiểu “Đêm tân hôn” giai nhân hỏi tuổi Uy Viễn Tướng công, Nguyễn Công Trứ khi xưa: “ Tân nhân giục vấn niên lang kỷ/ Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam!”, ắt hản thi sĩ sẽ trả lời: “ Lục thập niên tiền, nhị thập tam” ngay! Bởi lẽ bản tính vốn có của ông là vậy, luôn ngông ngạo, tự tin lẫn hóm hĩnh, chưa chịu nhận mình… già?
Hãy nghe nhà văn Trương Vấn, nhận xét về ông và thơ Tình của ông khi đã 72 tuổi như sau: “ Nhờ nó, tôi khám phá ra một Lê Mai Lĩnh đầy tính cách ngược ngạo, kể cả trong thơ tình…” (trang 6). Với nhà văn nữ Trương Anh Thụy, thì: “ Sau khi đọc cuốn Tuyển tập Lê Mai Lĩnh-Thơ văn-Tiểu luận, gấp sách lại suy ngẫm, cố tìm ra một chữ ngắn gọn hầu mô tả cảm nghĩ của mình… trong óc bất chợt bật ra hai chữ “ lửa ngông”!…(trang 111).
Nhà thơ Phan Xuân Sinh, thì có cái nhìn khái quát: “ Đọc thơ Lê Mai Lĩnh ta có cảm giác như nuốt phải một cục đường nghẹn ngang cổ họng, khó trôi, khó tan nhưng chất ngọt dần dần thấm làm dịu bớt cái khổ sở, đau đớn lúc ban đầu…”
(trang 126). Cụ thể hơn là: “ Chất điên loạn trong thơ của ông đã tạo ra và hình thành một thứ ngôn ngữ khác biệt. Ngôn ngữ Lê Mai Lĩnh…” (trang 130). Riêng đối với nhà thơ Trần Trung Đạo, thì cái nhìn thực hơn về tính cách và con người Lê Mai Lĩnh: “ Nhà thơ Lê Mai Lĩnh là một người có cá tính. Ông thích làm dáng, làm điệu bộ, thích đóng kịch, có khi thích giả khùng. Nếu độc giả gặp một Lê Mai Lĩnh như thế đâu đó, xin đừng để ý. Bên trong, ông là một người rất hiền hòa, tình cảm và yếu mềm trước tình cảm…” (trang 120).
Cũng theo nhà văn Trương Anh Thụy, đối với bạn bè, đôi khi ông cũng là một “anh hùng”, mà anh hùng thường hay “lụy” trước đàn bà, đặc biệt là mỹ nhân, không phân biệt: già- trẻ- lớn- bé, miễn là đẹp và đáng yêu, vì thế mà thơ Tình của Lê Mai Lĩnh không ít lần nhắc tới “học trò”, tức là “ông thầy” yêu và si tình trước những cô học trò của mình. Điều mà trước đây, ở thế hệ ông, rất “dị ứng” khi đề cập đến tình yêu giữa “thầy và trò”, chỉ duy nhất có nhà văn Nguyễn Thị Hoàng với tác phẩm “Vòng tay học trò” đã gây nhiều tranh cãi trước dư luận của bạn đọc và xã hội thời đó! Hãy nghe thi sĩ Lê Mai Lĩnh, tương tư cái “mùi vị” của cô học trò: “Đã hai tháng qua, trò đi đâu,/ Đừng để mất mùi sầu riêng, / Sầu riêng, mùi sầu riêng, ta tương tư, / Đêm đêm, ta tương tư, mùi sầu riêng.” ( Tương tư mùi sầu riêng, trang 28), thi sĩ “phớt lờ” cái suy nghĩ của độc giả, nếu như có người yêu thơ nào “cắc cớ” hỏi ông cái “mùi sầu riêng” là mùi gì? Ông vẫn “lặp lại”: “Đã hai tháng qua, trò biến hay thăng/ Dẫu biến hay thăng, vẫn giữ mùi sầu riêng nhé...” và ông dặn dò: “Đã hơn một lần, thầy dặn trò, đi đâu thì đi, đừng để mất mùi sầu riêng, / Mùi sầu riêng trò, thầy độc quyển chiếm hữu, / Để mất mùi sầu riêng, trò có ngày ăn roi.”, Cái “mùi sầu riêng” đã lạ, mà cái cách thầy dùng từ “ biến, thăng” và dọa đòn roi học trò lại càng “lạ hung tề”, và mặc kệ cho người đọc dù có “tinh quái” cũng khó ngẫm ngợi ra “cái mùi” ấy là mùi chi? Hóm hỉnh mà cũng bí ẩn!
Và cũng chẳng có ai nghĩ ra cách dặn “trò” như ông thầy Lê Mai Lĩnh: “Khi trò về, thầy sẽ cắt tóc, cạo râu,/ Mà thầy đã nuôi, từ khi trò đi, như một lời nguyền, / Thầy tắm rửa, vệ sinh cá nhân các thứ, / Rồi thầy trò mình làm đôi chim sẻ, / Khe khẽ, đôi chim sẻ nhìn nhau”. Cùng cái “tưởng tượng” của ông thầy: “Đoạn thầy nằm, mắt lim dim như ngủ, / Trò ngồi bên hay nằm cạnh, tùy trò, / Trên, dưới, ngược, xuôi, tùy trò, / Thầy dễ tính, không câu nệ, / Trên, dưới, ngược, xuôi, tùy trò.” ( Những điều cần làm khi trò trở về, trang 34). Thi sĩ mê đắm, lãng mạn, hẳn nhiên rồi, song một chút trần trụi và hóm hỉnh: “Những hè phố xưa, những lòng đường cũ,/ Của một thời, trò khua guốc mộc, chết hồn trai, / Của một thời, tóc mây trò bay bay trong gió, / Hồn thầy bay theo, chấp chới tới bây giờ.” (Trang 35). Một “thú thật” rất thật và cũng rất dễ thương, nhưng quan trọng là dám nói qua thơ…
“Áo lụa vàng” (trang 37) và in ở bìa sau tập thơ, lại là một thứ… tình thơ khác, nhẹ nhàng, hồn nhiên như “trai tân” mới lớn, trước một O con gái mặc áo lụa vàng: “Này cô em, mặc áo lụa vàng/ Thướt tha trong gió, vờn như bướm, / Làm ơn, xin cô em chầm chậm, / Họa may ra, tôi mới được gần/… “ Này cô em, mặc áo lụa vàng, / Áo vàng cô, làm tôi vàng mắt, / Tôi vàng mắt, nhưng tôi vui lắm, / Nhờ áo vàng cô, đời thêm thắm” và cuối cùng là: “Đời thiếu lụa vàng, đời buồn lạ,/ cám ơn em, cô gái lụa vàng.”.
Đây nữa, vẫn là nét hồn nhiên, như nhiên, mặc dù trong “trại tù Gia Rai, năm 1981”, nhà thơ mơ về mối tình ở Đà Lạt: “ Mai ta về, phố xưa, hoa vẫn nở, / Hoa bốn mùa thơm ngát, dấu chân quen”…/… Phố gập ghềnh, đường quen, nẻo thuộc/ Tà áo nào, đưa lối ta về, / Chân lạc loài, bờ xa, vầng trán lạ, / Ửng hồng em, đôi má ta u mê. /…/ Mai ta về thiên đường xưa rộng mở, / Nồng nàn em, đắm đuối, suối hôn mê, /…” (Đà Lạt trong nỗi nhớ, trang 40).
Song với cá tính mạnh mẽ, “thẳng ruột ngựa”. “gan liền tướng quân”, Lê Mai Lĩnh không cần đến Mỹ từ pháp, nói giảm, nói khinh hay nhã ngữ trong thơ, ông bộc bạch: “ Đời thật kỳ, em anh, / Tình chi mô lạ rứa, / Tình thay đổi đời người, / Tình phục sinh chan chứa.” Và “Ví phỏng em u mê / Anh lì lợm làm tới, / Ví phỏng em im lặng, / Anh mở cửa địa đàng” (Thơ tình của một ông già bảy mươi, trang 96, 97). Hay như “ Bài thơ như một lệnh truyền…”, trang 108, ông “lệnh”: “Tôi bây giờ 75, cô 80, / Hãy để tôi tương tư cô như thuở tôi 12, cô 17. Hay để tôi ra ngẩn vào ngơ, như thuở mới thoạt nhìn thấy cô, mà tưởng là bà tiên trong truyện cổ” Rồi nhà thơ sẵn sàng: “ Hãy để tôi dài cổ mong, mỏi mắt chờ…/ Hãy để tôi nằm mơ thấy cô, / Tóc huyền bến Ngự, /,,,/,,, Hãy cứ như thế, nghe cô. Hãy cứ như thế nghe cô”… Hình ảnh “Tóc huyền bến Ngự” trong thơ sao mà lạ, mà hay và tình si lắm vậy, dù cô hay lão bây giờ tóc cũng đã “trắng hoa lau trên núi Ngự Bình”?
Cái làm nên “sương bàng bạc” của một gã Sương Biên Thùy, và “huỵch toẹt” đến độ nhói lòng, đã làm nên thương hiệu “Thơ Tình của Lê Mai Lĩnh”, dẫu đôi khi có làm bạn đọc “nhíu mày” ngẫm ngợi, song hiểu rồi mới thấy “yêu” gã bao nhiêu, như bà lão 80 “yêu say đắm” gã làm thơ 75 tuổi? Đó là: “ Từ mũi tên em buông thả bắn vào, / Trái tim ta giữa một thời lao đao” và “ Hoan hô, nỗi cô độc của thi sĩ, / Muôn năm, nỗi cô độc của thi sĩ, / Đáng đời, nỗi cô độc của thi sĩ, / Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần, Amen” (Thơ tình một thời ngao ngán, trang 87).
Để khép lại bài viết cũng khá “lòng thòng” này, xin mượn lời của thiên tài hội họa Leonardo Da Vinci : “Thơ là bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm”, mới hiểu vì sao Lê Mai Lĩnh được đông đảo bạn bè và độc giả yêu thơ “cảm nhận” là vì Thơ Tình của Lê Mai Lĩnh.
TX, Jannuary 21, 2026
Trần Hoàng Vy