


Những cuộc biểu tình của thế hệ GenZ
Từ trái sang phải: Ở Bangladesh, Cuộc tuần hành chiến thắng của những người biểu tình sau khi Sheikh Hasina từ chức vào năm 2024; Những người biểu tình Nepal Gen Z trước văn phòng Bharatpur Mahanagarpalika vào tháng 9 năm 2025; Sinh viên Đại học Amirkabir, Iran biểu tình tháng 9/2022
Xin trả lời trước khi viết tiếp là chẳng bao giờ tới cả nếu những người Việt quan tâm vẫn thích “ăn hàm thụ”.
Người viết không nghĩ ra thuật ngữ “ăn hàm thụ” này mà chỉ nghe một nhà văn kể lại cách đây ba hôm. Anh kể trong thời gian ở tù Cộng Sản ngoài Bắc, đói quá, mà con người ở đâu cũng vậy thiếu gì thường hay nghĩ và nói tới cái đó. Các anh tối ngủ hay nói chuyện nấu những món ăn ngon. Có anh diễn tả cách nấu những món ăn hấp dẫn không thua gì các chương trình thi nấu ăn nổi tiếng trên TV bây giờ. Các anh nói chẳng qua để vơi cơn đói. Nói cho đã rồi ngủ với cái bao tử trống, trong chiếc mền rách, dưới mái lán mong manh và bên ngoài là cơn mưa không biết bao giờ dứt. Các anh có lý do để “ăn hàm thụ”. Đó là chuyện các anh nói chơi ở trong tù.
Nhưng tại Việt Nam ngày nay cũng có những người biết nấu ăn, có thịt cá, có mắm muối, có hành ngò, có củi lửa, nhất là có những đầu bếp đã phải dành nhiều năm học nghề nấu trong nhiều trại tù Cộng sản, lại không muốn nấu để ăn mà chỉ thích “ăn hàm thụ”.
Những người thích ”ăn hàm thụ” nghĩ rằng sau khi thanh toán xong Venezuela, Cuba, Mỹ sẽ hướng mục tiêu sang Á Châu để thanh toán chế độ Cộng Sản tại Việt Nam, hạ gục Trung Cộng mở ra một kỷ nguyên mới tự do, dân chủ cho nhân loại toàn cầu “dưới ngọn cờ vẻ vang của Mỹ”.
Người viết không dám nói họ đang giúp cho đảng Cộng Sảnru ngủ người dân trong giấc mộng hão huyền. Có thể họ thật sự thích “ăn hàm thụ” những món mà họ không dám tự nấu. Việc không tự nấu chưa hẳn là sai. Dưới xã hội Cộng Sảnai dám nói là không sợ. Nhưng trong lúc “ăn hàm thụ” là quyền tưởng tượng của mỗi người, truyền bá chủ trương “ăn hàm thụ” là không đúng vì họ cố tình bỏ viên thuốc độc vào nhận thức của người khác qua những lời rao giảng.
Lấy món ăn “Độc lập, tự do, hạnh phúc” ra làm ví dụ. Thật ra ba nguyên tắc này cũng chỉ ăn cắp tư tưởng chỉ đạo Tam Dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) của Tôn Dật Tiên cuối thế kỷ 19 chứ chẳng phải sáng tạo nào của đảng Cộng SảnViệt Nam. Tài liệu Trung Hoa Quốc Dân Đảng viết: “Năm 1897, khi Tôn Trung Sơn đang ở Luân Đôn vận động ủng hộ cách mạng, ông thường xuyên đến Thư viện Bảo tàng Anh, nghiên cứu sâu rộng và am hiểu hệ thống chính trị cũng như tổ chức xã hội của nhiều quốc gia châu Âu. Ông kết luận rằng không một cuộc cách mạng nào có thể thành công nếu không giải quyết được những vấn đề mà người dân phải đối mặt trong xã hội, và dựa trên nghiên cứu này, ông đã xây dựng triết lý về Nguyên tắc vì sinh kế của nhân dân. Điều này đã đặt nền móng cho Ba nguyên tắc vì nhân dân, mà ông chính thức công bố khi thành lập Liên minh các quốc gia thống nhất năm 1905.” (An Introduction of the Kuomintang, Official Website of KMT, Taiwan)
Từ 1945 đến nay dân tộc Việt Nam chỉ nghe, đọc chứ chưa sờ mó, chưa nếm mùi “Độc lập, tự do, hạnh phúc” thơm tho, mặn mà như thế nào. Trong lúc tại Trung Quốc và sau này là Đài Loan, chủ nghĩa Tam Dân thực sự làm tôn chỉ để hướng tới, tại Việt Nam “Độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là “món ăn hàm thụ”. Nếu không tin, quý vị thích “ăn hàm thụ” ráng đi tìm những “chiến sĩ lão thành” còn sống sót, chắc không nhiều, trong cuộc chiến chống Pháp để nghe họ kể lại tâm huyết một thời thanh niên của họ. Họ chiến đấu chỉ vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc”. Nhiều trong số họ chết trong cuộc chiến chống thực dân là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói rằng tất cả, đều tin như thế. Hôm nay, nếu còn sống, họ sẽ nhận ra, họ đã dành suốt một đời chiến đấu cho mục đích của chủ nghĩa Cộng Sảnchứ không phải vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc Việt Nam.
Những người thích “ăn hàm thụ” phải hiểu rằng loại bỏ một cá nhân độc tài không khó nhưng thay đổi một bộ máy như đảng Cộng SảnViệt Nam đã và đang chạy từ trung ương đến tận từng làng xã suốt 81 năm, tính từ 1945, là một công việc dời non lấp bể. Việt Nam không nằm trong tay một hay vài cá nhân mà bị cai trị bởi một đảng độc tài toàn diện, không có một kẽ hở nào dành cho sự đóng góp đi ngược với đường lối đảng.
Dưới sự lãnh đạo tập thể của đảng, một vài cá nhân chỉ mang tính đại diện. Thế hệ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập ra đi có thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh tiếp nối. Thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh ra đi có thế hệ Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh tiếp nối và cứ thế cho tới Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm. Gần một thế kỷ trôi qua, bao nhiêu triệu người Việt sinh ra, lớn lên và chết trong chiến tranh, nghèo khó vật chất lẫn tinh thần nhưng cơ cấu, hệ thống, thể chế Cộng Sảncòn nguyên vẹn và vẫn chạy đều.
Phần lớn các chế độ độc tài quân sự, dù cá nhân hay phe nhóm, hình thành do kết quả của các cuộc đảo chính, lật đổ các chính phủ tiền nhiệm, nhiều khi cũng rất độc tài. Cơ hội đã đưa một số sĩ quan từ vị trí của những người lính trở thành những nhà chính trị. Ngoài lòng tham quyền lực và địa vị, họ không sở hữu một vốn liếng chính trị và không chuẩn bị đầy đủ để lãnh đạo quốc gia. Tham vọng quyền lực của họ chỉ là tham vọng cá nhân, phe nhóm. Các nước Venezuela, Panama, Grenada ở Nam Mỹ hay Libya, Tunisia, Ai Cập ở Bắc Phi cũng không trải qua cuộc chiến tranh ý thức hệ tàn khốc như Việt Nam.
Chế độ Cộng Sản thì khác. Cơ chế chính trị Cộng Sản giống như một động cơ có đủ các bộ phận và chức năng để bảo đảm sự hoạt động của nó. Cứ thế, chỉ cần đủ xăng, đủ dầu, đủ nhớt là máy chạy. Các thế hệ Cộng Sản cai trị Việt Nam giống như những người được thừa hưởng đất hương hỏa của ông bà để lại, ngoại trừ làm hề và làm biếng, họ không làm gì cả, chỉ sống và thu hoạch hoa màu. Họ có thể tranh chấp nhau, phê bình nhau, hạ bệ, thanh trừng và bỏ tù nhau nhưng giữa họ vẫn có một mẫu số chung căn bản đã đồng thuận từ khi đưa tay tuyên thệ và một quyền phải được bảo vệ bằng mọi giá, đó là quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Những bộ phận chính giúp bộ máy chạy từ đời này qua đời nọ gồm (1) lý luận, (2) tuyên truyền, (3) khủng bố, và sau này thêm (4) chia chác.
Về lý luận, tư tưởng. Sau 1990, ở Châu Âu, nhân loại đã bừng tỉnh, các nhà sử học, các nhà thống kê có cơ hội đánh giá những thiệt hại của nền văn minh con người do ý thức hệ Cộng Sản gây ra. Các sử gia cũng chứng minh rằng chuyện giết người không gớm tay của các lãnh tụ Cộng Sản chẳng phải là tình cờ hay ngẫu nhiên, cũng chẳng phải phát xuất từ bản chất hung ác của Stalin hay Mao mà là một đặc điểm mang tính triết học trong hệ tư tưởng Cộng Sản. Tư tưởng và lý luận Cộng Sản giúp cho họ ăn ngon và ngủ yên mà không cảm thấy lương tâm cắn rứt sau khi giết người tập thể.
Về tuyên truyền. Sử gia Richard Overy trong tác phẩm “The Dictators: Hitler’s Germany and Stalin’s Russia” đối chiếu tâm lý người dân Đức thời Hitler và Liên Xô thời Stalin, cho thấy Hitler được dân chúng Đức ủng hộ cao nhất khi Đức chiếm Paris và Stalin được dân chúng Liên Xô ca ngợi nhiều nhất trong thời kỳ Khủng Bố Đỏ (Red Terror) 1936-1937. Khi Stalin chết, hàng triệu dân Liên Xô than khóc tiễn đưa. Theo ghi nhận của tổ chức Sahistory và South African History Online “Khoảng hai ngàn người đã thiệt mạng do bị giẫm đạp trong lễ tang.” Hitler và Stalin là hai tai họa của nhân loại nhưng là “anh hùng” trong nhận thức của người dân dễ bị lung lạc và vận dụng thời đó.
Về khủng bố. Trong thời gian qua, có người kêu gọi đảng Cộng Sản Việt Nam đổi lại danh xưng cũ là đảng Lao động Việt Nam hay đặt một tên nào khác cho dễ nghe hơn là giữ tên Cộng Sản đã bị văn minh nhân loại đào thải. Dù biết đó chỉ là bình mới rượu cũ nhưng đảng không làm. Lý do? “Cộng Sản” không chỉ là danh từ mà còn là động từ. Nó hàm chứa các đặc điểm của một cơ chế tàn bạo về hình thức lẫn nội dung, về lý luận lẫn thực tế. Giới cai trị không dại gì thay tên đổi họ vì biết rằng chỉ hai chữ “Cộng Sản” thôi đủ làm người dân mất ăn mất ngủ. Hai chữ “Cộng Sản” là ngọn roi thép kinh người, một mối lo sợ ám ảnh thường trực trong tâm trí người dân Việt. Do đó, việc duy trì tên đảng Cộng Sản Việt Nam là cách để cảnh cáo nhân dân Việt Nam rằng nhà tù vẫn còn đó, súng đạn cũng còn đó, các biện pháp trừng phạt không thương xót, những cách trả thù ghê rợn vẫn còn đó.
Về quyền lợi phe nhóm. Vai trò của đảng ngày nay không còn trong lý thuyết mà cụ thể dần, không còn chỉ đại diện cho ý thức hệ, cho quan điểm chính trị mà còn đại diện sự giàu sang phú quý mà họ đang hưởng thụ, cho nhà cao cửa rộng mà họ đang sở hữu. Nhìn cách chia chác quyền lợi từ trung ương tới địa phương, từ vùng miền tới từng tỉnh như Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v… để thấy chế độ Cộng Sản không chỉ tàn phá tài nguyên của đất nước mà còn chia rẻ dân tộc như thế nào.
Mỹ sẽ cứu Việt Nam?
Có thể. Nhưng cứu Việt Nam là cứu đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải cứu dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách Cộng Sản. Sở trường của Mỹ không chỉ lật đổ mà còn nuôi dưỡng các chế độ độc tài. Trường hợp Pinochet của Chile, Noriega của Panama, Somoza của Nicaragua, Marcos của Phi Luật Tân là vài thí dụ điển hình.
Trước khi góp phần treo cổ Saddam Hussein, Mỹ đã từng nuôi dưỡng chế độ độc tài của ông ta để làm đối lực với Iran và hợp tác khai thác dầu hỏa với chế độ độc tài này. Mỹ biết Iraq dùng vũ khí hóa học trong chiến tranh chống Iran và tàn sát thường dân Kurds nhưng im lặng. Hai chục năm sau, Mỹ xua quân lật đổ Saddam Hussein cũng không phải vì lòng thương xót số phận đau thương của người dân Iraq mà chỉ vì quyền lợi của Mỹ.
Tổng thống Jimmy Carter được ca ngợi là vị tổng thống nhân từ nhất của Mỹ. Không sai. Nhưng trong buổi đón tiếp Nicolae Ceausescu tại Vườn Hoa Hồng ngày 12 tháng 4, 1978 ông đã ca ngợi Ceausescu như “một lãnh tụ vĩ đại”. Tổng thống Richard Nixon trước đó cũng vậy. Tổng thống Nixon ban cho chế độ độc tài này đặc quyền Tối Huệ Quốc (Most-Favored-Nation) và kêu gọi các ngân hàng Mỹ cho Romania vay với điều kiện rộng rãi. Số tiền nhiều tỉ đô la các ngân hàng Mỹ cho Romania vay lãng phí do quản trị kém và rơi vào tay tham nhũng. Khi nợ đến kỳ trả Ceausescu không đủ tiền nên đã áp dụng một chính sách tem phiếu vô cùng hà khắc trên đời sống của người dân Romania. Mặc dù hai tổ chức Amnesty International và Helsinki Watch công bố những vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Romania, Nicolae Ceausescu vẫn được các chính phủ Mỹ từ Richard Nixon đến Jimmy Carter tiếp đón một cách trang trọng qua ba lần viếng thăm Mỹ vào những năm 1970, 1973 và 1978. Sau khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, các tổ chức nhân quyền khám phá khoảng nửa triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng bị đối xử một cách bất nhân trong các trại mồ côi do chính sách cưỡng bách sinh đẻ gây ra. Mỹ biết rõ thực trạng đau lòng của đời sống người dân và sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Romania nhưng không đặt ưu tiên. Lý do, Ceausescu phục vụ cho quyền lợi của Mỹ ở Đông Âu và là con cờ cần thiết của Mỹ để đối đầu với Liên Xô.
Tiếng kêu trầm thống của nhân dân Tây Tạng cất lên từ hơn nửa thế kỷ qua nhưng ngoại trừ đôi lời an ủi và dăm ba lần tiếp xúc không chính thức, không một áp lực quốc tế nào cứng rắn đủ để buộc Trung Cộng ngồi vào bàn đàm phán. Tại sao? Tây Tạng nghèo khó và chẳng có tài nguyên nào để thu hút các đại công ty tư bản Mỹ.
Trong ba ngày qua, Cộng Sản Việt Nam không cất cao cùng một giọng phản đối mạnh mẽ như Nga, Trung Cộng, Iran, Cuba để kết án Mỹ chẳng phải vì chính sách ngoại giao “cây tre” hay “cây sậy” gì mà là để lấy lòng Mỹ. Nhìn về viễn ảnh tranh chấp ngày càng căng thẳng giữa Mỹ-Nhật và khối Trung Cộng-Nga, Cộng Sản Việt Nam biết nếu rơi vào thế phải chọn họ sẽ chọn đóng vai trò của một Romania trước 1989 hơn là một Cu Ba sau 2025.
Về phía Mỹ, họ chẳng dại gì bỏ công sức và có thể cả xương máu để can thiệp vào nội tình Việt Nam. Mỹ chỉ cần Cộng Sản Việt Nam biết nghe là đủ. Mỹ, ngoài ra, không muốn động tới Việt Nam vì cuộc chiến Việt Nam cho đến nay vẫn còn là mối ám ảnh hãi hùng trong tâm lý người dân Mỹ. Tổng thống Ronald Reagan nhắc lại lý do khi can thiệp quân sự vào Grenada ông phải thực hiện hết sức bí mật chỉ vì lúc đó tâm lý người dân Mỹ còn bị ám ảnh bởi “Hậu Hội chứng Việt Nam” (Post-Vietnam syndrome), tức tâm lý do dự và chống đối của dân Mỹ khi chính phủ Mỹ can thiệp quân sự vào một nước khác. Phải nhiều thế kỷ nữa Hội chứng Việt Nam (Vietnam syndrome) mới hy vọng bớt ám ảnh. (Ronald Reagan, “An American Life”, page 451)
Trong bang giao chính trị thế giới, bạn hay thù nhiều khi chỉ là cách gọi, nhưng cơ hội lại là điều có thật. Các cường quốc tranh giành nhau, chém giết nhau từ Nam Mỹ đến Trung Đông, dù che đậy dưới khẩu hiệu gì, thực chất cũng chỉ vì tài nguyên và an ninh, nhưng đó cũng là cơ hội cho các dân tộc bị trị dưới ách độc tài vận dụng.
Trong bang giao quốc tế sự tương hợp giữa quyền lợi của một dân tộc và quyền lợi của cường quốc vô cùng quan trọng. Một danh sách dài những quốc gia trở nên dân chủ và thịnh vượng nhờ tương hợp với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Jordan, Columbia và phần lớn Tây Âu.
Tại buổi hội thảo đánh dấu 70 năm Kế Hoạch Marshall ngày 3 tháng 4, 2018, sử gia kiêm chiến lược gia đồng thời cũng là Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ A. Wess Mitchell phát biểu: “Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn về cách ứng phó với tình cảnh khó khăn của châu Âu. Nhưng thay vì trừng phạt kẻ thù hay rút lui khỏi các vấn đề của châu Âu như chúng ta đã làm sau năm 1918, các nhà lãnh đạo Mỹ đã chọn ở lại châu Âu và sử dụng nguồn lực quốc gia khổng lồ của mình để nuôi dưỡng và xây dựng lại các xã hội tan vỡ của châu Âu. Như Ngoại trưởng Marshall đã nói vào năm 1947, Hoa Kỳ sẽ ‘làm bất cứ điều gì có thể để hỗ trợ khôi phục kinh tế bình thường trên thế giới, nếu không sẽ không thể có sự ổn định chính trị hay hòa bình được bảo đảm’. Trong những năm tiếp theo, Hoa Kỳ đã viện trợ hơn 13 tỷ đô la cho các quốc gia châu Âu, tương đương hơn 110 tỷ đô la ngày nay. Tiền chỉ là một phần của khoản đầu tư này. Chúng ta đã xây dựng các căn cứ quân sự thường trực của Hoa Kỳ để gìn giữ hòa bình trong tương lai. Và chúng ta đã xây dựng các thể chế mới, cùng với các đồng minh châu Âu, chúng ta đã thành lập NATO và giúp đỡ việc thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu, sau này trở thành Liên minh châu Âu.” (Assistant Secretary for European and Eurasian Affairs A. Wess Mitchell speaks at the U.S. Diplomacy Center event “Perspectives on the Marshall Plan” on April 3, 2018, in Washington, DC.)
Hẳn nhiên Mỹ cũng lợi rất nhiều qua Kế Hoạch Marshall nhưng quyền lợi của Mỹ tương hợp với quyền lợi của các nước Tây Âu để ngày nay có một Tây Âu dân chủ và thịnh vượng.
Khác với mục đích của các cường quốc, cuộc đấu tranh của người Việt là cuộc đấu tranh cho quyền được sống trong một xã hội tự do, dân chủ và thăng tiến. Người Việt quan tâm hãy tận dụng mọi cơ hội để đạt các mục đích đó. Không một Mỹ, Nhật nào ủng hộ nếu không có một đối lực dù nhỏ trước đảng Cộng Sản. Một trong những lý do Đồng Minh không giải phóng Tây Ban Nha khỏi ách độc tài Francisco Franco (1892-1975) cuối Thế Chiến Thứ Hai bởi vì tại Tây Ban Nha lúc đó không có một phong trào dân chủ nào tương đối mạnh hay một chính phủ lưu vong có uy tín để lèo lái Tây Ban Nha sau Franco. Anh và Pháp thắng trận nhưng nền kinh tế gần như phá sản.
Những ai quan tâm đến vận nước Việt Nam thay vì nói theo ý đảng hay ngồi chờ một người nào đó anh minh, sáng suốt cỡ “bậc chí thánh” trong truyện ngắn Linh Nghiệm của Trần Huy Quang đến soi lối dẫn đường, nên gióng lên tiếng nói thay cho những người đang khốn khổ trong tù và đang chịu đựng ngoài tù.
Bớt rao giảng những chuyện xa vời bằng ngôn ngữ hào nhoáng nhưng không tim của AI. Người Việt không quan tâm hỏa tinh (Mars) hay mộc tinh (Jupiter) có nước ngọt hay không nhưng quan tâm đồng bào các vùng bị lũ lụt ở Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng hôm nay có đủ nước ngọt uống chưa.
Dân chủ không phải là khái niệm trong sách vở hay lý thuyết mà là quyền có thể sờ mó, nắm bắt được như hạt gạo, chén cơm, ổ bánh mì, công ăn việc làm, lá phiếu bầu của con người đang sống hôm nay. Tuổi trẻ Nepal đã đứng lên. Tuổi trẻ Bangladesh đã đứng lên. Tuổi trẻ Iran đang đứng lên. Tuổi trẻ Cuba sẽ sớm đứng lên. Tuổi trẻ Việt Nam cũng thế, có thể còn khá lâu, nhưng chỉ tự đứng lên trước mới thay đổi được vận mệnh của chính mình.
Trần Trung Đạo