Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 2)

Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo

Chuyện niên thiếu của tôi

Hình minh họa: AI

Tựa dậy sớm hơn mọi ngày. Hôm nay nông nhàn, nó không ra đồng mà ở nhà giúp mẹ nhuộm vải nâu. Trời còn sâm sẩm tối, khí trời lành lạnh. Nó vươn vai, rồi nhanh chóng rửa mặt, xuống bếp đốt củi, nhóm lửa nấu nước sôi pha chè. Trong gian bếp mờ tối, Tựa thoáng nghe tiếng mẹ ho húng hắng, rồi hắt hơi mấy cái. Tháng ba rồi, trời sáng sớm còn hơi se lạnh, nhưng lát nữa thôi, khi mặt trời ló dạng, một ngày nắng và nóng sẽ đến.

Bên ngoài, tiếng lợn ụt ịt đòi ăn. Tựa xắn tay áo, lấy mớ cây chuối cắt nhỏ pha nước gạo có sẵn, múc thêm nước đổ vào máng, nhìn mấy con lợn chen nhau, cái mũi to ụ hít hít vào thành máng, hít cả hơi nước bốc lên trong làn sương sớm. Xong xuôi, nó vốc thóc xả xuống sân. Đám gà ùa tới, mẹ gà bận rộn dẫn lũ con lạch bạch chạy theo, mổ từng hạt một. Tựa đứng lặng nhìn đàn gà, chợt nghĩ đến đống củ nâu chất đầy góc sân.

Bước ra sân, nó âu yếm nhìn đống củ nâu ngồn ngộn, sương mai còn đọng trên bề mặt khô sần. Hái từ mùa trước, dễ chừng cả năm rồi, bây giờ khô cứng lắm. Dao nhỏ không gọt nổi, phải dùng dao phay với búa mà bổ ra. Nhưng trước hết, phải lựa củ. Có nhiều loại củ nâu khác nhau. Củ nâu dọc đỏ vỏ nhẵn, Củ nâu dọc trai vỏ sần sùi, nhựa đỏ thẫm, Củ nâu tẻ vỏ nứt, màu nâu xám nhạt, cơm dày, nhựa nhiều, thường dùng để nhuộm lớp màu.

Tựa ngồi xuống, bàn tay to lớn mân mê từng củ nâu, cảm nhận lớp vỏ thô ráp dưới đầu ngón tay. Nó lựa ra từng loại, tách riêng thành từng đống. Xong xuôi, Tựa lấy dao phay bổ củ nâu ra. Dao sắc bổ phập vào vỏ cứng, nhưng chưa tách ngay. Nó nhấc búa, gõ mạnh vào sống dao. Củ nâu nứt làm đôi, lộ phần ruột nâu đậm bên trong. Bổ xong, Tựa đem từng miếng đã cát nhỏ, bỏ vào cối đá, dùng chày giã nhuyễn. Tiếng chày nện thình thịch vang khắp sân. Củ nâu nhiều quá, có khi phải dùng cả cối giã gạo mới kịp. Nó hì hục giã, đến khi từng thớ nâu vụn ra, nhuyễn như cám, mới đổ vào thùng nước. Lấy đũa cả dài khuấy đều, nước dần dần chuyển sang màu nâu sậm, rồi đen đặc lại. Cơm nâu và nhựa hòa vào nước, sền sệt.

Mẹ bước ra sân, nhìn thùng nước nhuộm, gật gù. “Lát nữa nhuộm, phải chia ra từng loại vải, làm nhiều thùng riêng. Muốn đẹp, phải nhuộm năm lần, để sắc nâu bền. Lớp này phơi rồi mới nhuộm lớp khác.”

Tựa gật đầu, tiếp tục khuấy thùng nước nhuộm, trong lòng bỗng thấy vui lạ. Công việc tưởng chừng vất vả, vậy mà hóa ra cũng có cái thú riêng. Khi nhuộm xong, từng tấm vải sẽ thấm đượm sắc nâu trầm—màu của đất, của làng, của quê hương.

Mẹ cẩn thận lấy từng sấp vải ra, tỉ mỉ chọn mặt trái, mặt phải. Mỗi lần nhuộm, mặt phải phải được đặt lên trên, hứng nắng cho đều. Mẹ gọi Tựa lại giúp căng vải, rồi cắt, xé thành từng mảnh dài chừng năm, sáu thước. Xong xuôi, mẹ ngồi xuống, tỉ mẩn khuyên nút bốn góc từng tấm một. Chỉ chốc lát nữa thôi, thằng Tựa sẽ ra vườn, đóng bốn cọc chắc chắn, giăng từng mảnh vải ra hong nắng.

Tựa loay hoay quấy đám củ nâu trong thùng, trộn cho thật đều. Xong nó bốc phần xác củ nâu đã nhừ, vắt kiệt nước rồi ném sang một bên. Hai mẹ con lấy ra ba mảnh vải, nhúng vào thùng nước nhuộm, dập lên dập xuống cho thuốc thấm thật sâu. Tựa vớt vải lên, vắt cho ráo rồi cùng mẹ đem ra vườn, căng thẳng, buộc chắc vào từng cọc gỗ. Những lớp nền đầu tiên được nhuộm bằng củ nâu tẻ, tạo màu bền chặt.

Xong xuôi, hai mẹ con đứng ngắm ba tấm vải phất phơ trong nắng sớm. Nắng mới mà đã rực rỡ, trải dài thành từng vệt vàng óng trên nền vải. Mẹ cười bảo: “Kiểu này thì chẳng mấy chốc mà khô thôi.” Tựa vội chạy vào nhà, lấy nón lá đưa mẹ, rồi cũng đội lên đầu một chiếc cũ kỹ, đã rách mấy chỗ, dấu vết của những ngày lao động ngoài đồng.

Mẹ đi vào bếp, bê nồi bánh đúc lạc nấu từ tối qua, đổ sấp ra chiếc mẹt tre đã lót sẵn lá chuối. Hơi vôi còn thoảng nhẹ, phảng phất một mùi nồng quen thuộc. Ánh nắng chiếu nghiêng qua ô cửa, rọi xuống làm mặt bánh đúc thêm phần óng ánh. Mẹ cắt bánh, múc chén tương đặt lên chiếu, rồi gọi: “Tựa ơi, ra ăn đi con!”

Xong nước hai, lại qua nước ba, bỗng nghe xôn xao ngoài ngõ. Tựa dừng tay, ngoái nhìn ra. Từ xa, nó thấy con Hĩm đang lững thững đi tới, theo sau là một lũ con nít lóc nhóc, chân đất, reo hò như một đàn chim sẻ. Xa nữa, bóng ông Cố Phới thấp thoáng, lật đật gánh hai thùng nước mắm đi bán dạo, đôi vai trĩu xuống theo nhịp bước tất tả.

Tựa đứng lặng, mắt dõi theo con Hĩm, lòng bâng khuâng nhớ đến buổi hai đứa gặp nhau dưới gốc cây me, nhớ cả cuộc đối thoại dang dở, nhớ ánh mắt ngập ngừng của nó khi nhắc đến chuyện ngày mai. Ngoài sân, chiếc điếu cày vẫn nằm lăn lóc, Tựa chưa kịp rít một hơi. Nó chợt tự hỏi, con Hĩm sáng nay đi đâu?

Hĩm bước tới gần ngõ, ngả nón chào Tựa, giọng trong veo:
– Đằng nớ khỏe không?

Tựa gật đầu chậm rãi, ánh mắt lướt nhanh trên gương mặt rám nắng của con Hĩm:
– Đi mô mà sớm rứa?

Tựa lách người sang bên, nhường lối cho Hĩm bước vào nhà. Trong gian bếp, mẹ Tựa cũng vừa xếp lại rổ vải nhuộm.

Hĩm cúi đầu, lễ phép:
– Thưa bác.

Một làn hương vôi nhè nhẹ thoảng ra từ nồi bánh đúc trên mẹt tre, làm lòng Hĩm bất giác mềm lại. Căn nhà nhỏ đơn sơ mà sao ấm áp lạ. Mẹ Tựa nhận ra nó, cười hiền:
– Con đi mô mà sớm rứa? Hai bác bên nhà vẫn mạnh giỏi chớ?

Hĩm cố nở một nụ cười duyên, để lộ chiếc răng khểnh hờ hững bám lấy môi:
– Dạ, bố mẹ con vẫn khỏe ạ. Mẹ con nghe bà Cúc nói bác và anh Tựa hôm nay nhuộm vải, nên sai con qua hỏi thăm. Mẹ con cũng định nhuộm thêm vải, may áo quần cho bố.

Tựa thoáng khựng lại. Nó ngờ rằng mẹ không hề hay biết chuyện con Hĩm và nó từng tình cờ gặp nhau dưới gốc cây me, có cả con trâu bạc. Nhưng nó chỉ im lặng, rồi nói:
— Đằng nớ ra sân coi thử, sáng ni hong được ba tấm vải rồi.

Hĩm lại cười, lúm đồng tiền thoáng hiện nơi khóe miệng. Nó luýnh quýnh đi theo Tựa. Ra đến sân, Hĩm bị chói mắt bởi nắng vàng khoe sắc. Nó khẽ nheo mắt, nhìn ra vườn thấy ba tấm vải căng thẳng dưới nắng, thấy hai thùng nước củ nâu còn sủi bọt, xác nâu lềnh khênh trên đất. Tựa đứng ở trần, làn da rám nắng óng lên dưới trời trưa, cẩn thận tháo từng mảnh vải phơi đã khô. Nó xách một tấm đem vào sân, nhúng vào thùng nước nhuộm mới. Ánh mắt nó lướt nhanh về phía con Hĩm, thấy nó vẫn tần ngần đứng đó, tay vẫn có tật mân mê vạt áo.

Mẹ Tựa nhóp nhép miếng trầu, môi đỏ thắm, cất giọng:
– Chớ mẹ con tính nhuộm bao nhiêu vải?

Hĩm nhỏ nhẹ đáp:
– Dạ, mẹ con có hai tấm vải thô, mà làng mình không ai bán củ nâu cả.

Mẹ Tựa gật gù:
– Ừ, thằng Tựa phải qua sông, nhờ cô Năm nhà nó dẫn đi mua đấy. Không biết có đủ dùng không nữa!

Bà vừa nói, vừa kín đáo liếc nhìn con Hĩm từ đầu đến chân. Tựa bỗng dưng thấy nóng ran, lúng túng không hiểu vì sao mẹ mình lại có vẻ tỏ ý cầu thân với nhà ông chủ tịch xã. Nó còn đang ngỡ ngàng thì mẹ Tựa đã chậm rãi nói tiếp:
– Để bác biểu thằng Tựa lựa ít củ nâu đem qua biếu hai bác tạm dùng. Nếu bên nớ thiếu, thì thằng Tựa nó lại qua sông nhờ cô Năm kiếm mua thêm.

Tựa sững lại, tay còn vắt dở tấm vải. Nó không hiểu vì sao mẹ lại quyết định nhanh như vậy. Trong đầu nó cứ lởn vởn câu hỏi: bà cụ tính chuyện gì đây?

Mẹ nhìn Hĩm, rồi nhẹ nhàng bảo:
– Con ra giúp anh Tựa căng vải máng vào cọc phơi đi. Bác hâm nước sôi pha chè, mình uống đỡ khát. Nắng trưa bắt đầu gắt rồi đó!

Hĩm ngoan ngoãn bước tới, khẽ đỡ lấy một góc vải từ tay Tựa. Lần đầu tiên hai bàn tay chạm nhẹ nhau, nóng bỏng như vạt nắng trên bờ giếng. Tựa hơi giật mình, nhưng con Hĩm chỉ khẽ cúi mặt, lặng lẽ giúp căng vải lên phơi. Hai đứa cứ thế mà làm, chẳng ai nói câu nào, nhưng trong lòng đều dấy lên một niềm vui thầm kín, một chút gì đó vừa lạ lẫm, vừa ấm áp. Tựa liếc nhìn Hĩm. Nắng chiếu nghiêng, hắt lên má nó một màu hồng ửng. Con Hĩm cũng liếc trộm Tựa, thấy hắn vừa cẩn thận mắc vải, vừa lén nhìn mình mà không biết nói gì. Ngoài kia, mẹ Tựa đang hâm lại ấm nước, chuẩn bị pha chè. Nhưng trong lòng hai đứa, hình như đã có một thứ nước khác vừa được ủ, nóng hổi và ngọt ngào hơn cả chén chè đầu hôm…

Củ nâu đã nhường lại cho mẹ Hĩm khá nhiều, trong nhà không đủ dùng, mẹ sai Tựa qua sông, nhờ cô Năm dẫn đi mua thêm. Lần này Tựa qua sớm, có thời gian thoải mái đi tới đi lui, chọn từng củ nâu, vừa lựa chọn, vừa tán gẫu với cô Năm, hầu chuyện bà Ninh hỏi han trăm thứ bà rằn. Một bao củ nâu lớn được Tựa khệnh khạng vác trên vai, đi qua cánh đồng ngập sương sớm, ánh sáng yếu ớt của buổi mai len lỏi qua những tán cây.

Cô Năm, với đôi tay khéo léo và nụ cười hiền hòa, đãi Tựa cơm trưa. Món tiết canh dê mà nó chưa từng ăn bao giờ, khiến Tựa không khỏi tò mò. Cô Năm cắt nghĩa, sáng nay ông Tô có cán bộ tỉnh về chơi, có cả em ông cũng trong hội đồng về. Bà Tô làm tiệc dê đãi khách. Cô được bà ấy cho ít tiết, mang về đãi Tựa.

Tiết canh dê sau khi cô Năm hoàn thành có màu đỏ hồng đẹp mắt, sánh mịn như thạch, ánh lên trong nắng. Tiết mềm dai, vị mặn và hương thơm đặc trưng của dê khiến Tựa ngạc nhiên. Phần nhân tiết canh có độ giòn sần sật từ cuống họng dê, thịt dê dai ngọt, béo nhẹ. Món ăn này cho thêm nhiều lạc, rau thơm ngò gai, húng quế, tạo nên một sự kết hợp béo bùi, thơm nồng. Tựa nghĩ ăn một miếng rồi muốn ăn thêm miếng nữa. Mùi vị đọng lại trên đầu lưỡi khiến nó thèm thuồng, như đã phải lòng món tiết canh này.

Tựa phe phẩy quạt, ngồi xuống chiếu, đôi mắt đắm đuối nhìn ra vườn. Nó thèm điếu cày, nhưng ở đây không có. Nó với bát chè xanh uống ừng ực, cảm giác mát lạnh lan tỏa trong cơ thể. Thở ra khoan khoái, lòng nhẹ nhõm như được trút bỏ gánh nặng.

Cô Năm bưng mâm vào, trên mâm có hai chén tiết canh và một đĩa lòng dê. Cô cũng mang theo một cốt rượu trắng nhỏ, ngửi thấy mùi thơm nồng nàn của rượu, Tựa khẽ mỉm cười, lễ phép uống, vắt thêm chanh vào chén tiết để làm tăng thêm hương vị chua thanh. Trên mâm có bánh đa và rau thơm ngò gai, húng quế, tất cả hòa quyện tạo nên một bức tranh ẩm thực hoàn hảo. Tựa chưa bao giờ được ăn ngon như thế. Mặt nó lấm tấm giọt mồ hôi, đôi mắt nhìn cô Năm với ánh nhìn đầy lòng cảm ơn, như muốn nói một lời cám ơn sâu sắc, mà tìm không ra. Rượu trắng ấm nhẹ trong cổ họng, khiến đầu óc Tựa hơi ngà ngà. Lòng nó tê tê, tim hơi nhộn nhạo vì rượu, nhưng cũng vì một cảm giác lạ lùng khác: cái cảm giác về một điều gì đó mà nó chưa từng nghĩ tới trước đây.

Đầu óc miên man nghĩ về khuôn mặt dễ chịu của con Hĩm, Tựa nhớ lại những lần gặp nó, những lần trò chuyện gần gũi, những lúc Hĩm làm nó cảm thấy tim mình đập nhanh hơn. Giờ đây, nó mới nhận ra cặp răng khểnh và đôi mắt hơi lé của Hĩm lại có một nét duyên riêng, một nét dễ thương mà trước kia nó chẳng hề để ý. Nó chưa hiểu chuyện trai gái, nhưng đôi khi, trong lòng nó lại bật ra một suy nghĩ: “Chắc rồi mình cũng phải lấy vợ thôi.”

Tựa bắt đầu nghĩ, không biết cô nào trong làng sẽ chịu lấy mình làm chồng. Nó dò xét trong đầu, duyệt qua những cô gái trong làng, tự hỏi ai là người sẽ chấp nhận nó, với hoàn cảnh gia đình nghèo khó như vậy. Bóng dáng của Hĩm bỗng hiện lên trong đầu, nó tự nhủ: “Đàng ấy thì có vẻ cao sang quá, làm sao mình với tới được?” Nhưng rồi lại nghĩ, “Biết đâu nó cũng để ý đến mình?” Cảm giác trong lòng nó như nóng bừng lên, tim đập thình thịch, tưởng tượng một cách hạnh phúc, một giấc mơ giản dị: “Mình cưới được Hĩm, vợ chồng sẽ sống ở đâu? Nhà mẹ mình bé nhỏ quá, tầm thường quá… Nhưng dù sao, mẹ già đâu bỏ được, không thể đi gửi rể đâu.”

Tựa xin phép cô Năm ra chõng, ngả lưng một lát, để cho tâm trí mình thả lỏng. Trong lúc nằm đó, đầu óc nó vẫn vẩn vơ những suy nghĩ, cảm giác về Hĩm, những điều chưa biết nhưng cũng đã làm lòng nó xao xuyến, trái tim nó trào lên những xúc cảm lạ lùng mà chỉ mới bắt đầu. Rồi nó thiếp đi trong giấc ngủ trưa, yên lặng, không có cả tiếng dế kêu …

Tựa trở lại đò qua sông về nhà. Cái bao bố củ nâu to quá, nặng trịch, khiến nó cảm thấy vướng víu. Nó nghĩ ra cách khuất cái bao lên vào vạt áo, lên vai rồi buộc thật cứng vào lưng, như thế mới ổn. Nó đưa tay đẩy qua đẩy lại, thấy vừa ý, bao củ nâu như dính chặt vào người nó, không thể tách rời. Cảm giác đó lạ lùng, như bao nâu đã trở thành một phần thân thể, vững chãi và kiên định.

Gần đến giữa sông, trời bỗng dưng bùng lên nổi gió, mây đen kéo đến che phủ cả một vùng trời. Mây đen ngập trời, đen ngặt, như một tấm vải che phủ vũ trụ. Gió ào đến như vũ bão, mạnh mẽ, cuốn đi tất cả những gì Tựa còn nhìn thấy. Sóng sông Mã cuộn lên từng đợt, nhấn chìm mọi thứ trong đợt sóng dâng cao. Mưa bắt đầu đổ xuống ào ạt, như trút hết cơn giận dữ của trời của đất. Cơn mưa nặng hạt, thổi tan mùi đất đẫm, vỡ ra trong làn gió lạnh.

Thuyền giữa sông quay tít thò lò, ván thuyền rung lên như một con thuyền vô chủ bị cuốn đi, xé đi trong cơn sóng dữ. Nước dâng lên cao mạnh mẽ, sóng tràn vào mạn thuyền, gõ vào thành thuyền như những đợt mạnh. Nước vỗ vào chân Tựa, lạnh ngắt, nhưng nó vẫn kiên trì bám vào cái bao củ nâu, không buông tay. Cả thế giới lúc này như quay cuồng trong mắt nó, không còn nhìn thấy bờ bến, chỉ có sóng, gió, và mưa đang quấn lấy thuyền giữa cơn cuồng phong này.

Lái đò và Tựa trôi đi, cuốn theo sóng dữ. Cơn gió khủng khiếp ào đến như vũ bão, kéo theo một màn mây đen kéo đến dày đặc, xám ngắt như mực. Gió rít lên, ào ào, như đang rủa xả mọi thứ trước mắt, xé toạc không gian. Sóng càng dâng lên mạnh mẽ, từng đợt sóng nhấn chìm mọi thứ, mỗi đợt sóng lại càng cao, như muốn xô đổ tất cả vào cõi không. Cơn mưa trút nước từ trên trời, đổ xuống một tấm màn dày, không để lại chút không gian nào. Thuyền vẫn quay tít, cuộn tròn như một con vật lạ, xoáy trong lòng sông cuồng nộ. Mái chèo của lái đò gần như không thể kìm nổi, cứ vung lên vung xuống, nhưng nước tràn vào mạn thuyền, bắn tung tóe, dâng lên lốp bốp.

Tựa lồng lên, tay bám chặt vào bao củ nâu, cảm giác như mình bị cuốn vào cái thế giới đang xoáy này, đôi mắt không thấy gì ngoài một màn nước mưa dày đặc. Sóng mạnh vỗ vào thuyền, thuyền như muốn lật, nhưng Tựa vẫn kiên cường bám trụ, như thể không có gì có thể lay chuyển được nó. Gió thổi mạnh đến mức những giọt nước mưa như cắt vào da thịt, lạnh buốt, tê tái. Chân nó mỏi nhừ, bắp đùi căng thẳng, nhưng trong lòng không thấy có sự sợ hãi. Nó cảm thấy mình như một phần của dòng sông này, thả trôi với sự hoang dại của thiên nhiên, như chính cái cuộc đời của nó—không hề đoán trước được, nhưng vẫn cứ vững bước.

Nước tràn vào, thêm vài sóng nữa, thuyền hằn xuống như một chiếc lá nhỏ bập bềnh giữa biển lớn. Tựa vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xẩy ra, mọi thứ xung quanh quay cuồng. Nó thấy mình như đang ở giữa một không gian khổng lồ khác, không còn là làng quê thân thuộc, không còn là con sông Mã quen thuộc. Chỉ có tiếng gió, tiếng sóng, và cảm giác bao củ nâu ấy dính chặt vào người, như một trọng lượng vô hình, cứ theo nó đi hết quãng đường này. Thuyền cứ trôi, như một chiếc bóng nhỏ bé, mờ dần giữa bao la của sóng gió. Đò chìm nghỉm. Lái đò và Tựa bị hất xuống lòng sông, cuồn cuộn trôi đi.

Tới khuya rồi, mà vẫn không thấy Tựa về. Trời ngoài kia như muốn lật tung cả đất trời, giông gió bừng bừng, quật mạnh vào mái tranh, thổi bay từng bụi đất xa ngoài ven sông. Gió tru tréo như tiếng than khóc, cuốn theo lá khô, cát bụi, rác rưởi tứ tung. Mẹ Tựa đứng trước cửa, tay siết chặt vào mép áo, mắt dán vào khoảng không đen kịt ngoài bãi. Gió táp vào mặt bà, lạnh buốt. Trong lòng bà nóng ran như lửa đốt. “Tựa đâu? Sao giờ này chưa thấy nó về?”

Bà lầm bầm, tay run run chạm vào cái cột cửa, lòng hoang mang. Đứa con trai của bà lanh lợi, gan lì, nhưng trời giông gió thế này, ai mà biết chuyện gì đã xảy ra? Bà thấp thỏm, rồi lo âu biến thành sợ hãi. Trực giác người mẹ mách bảo bà có điềm chẳng lành.

Sáng hôm sau, trời bớt giông, mây tan dần, để lộ một bầu trời xám đùng đục. Nhưng Tựa vẫn không về. Đến trưa, rồi đến chiều, vẫn không có bóng dáng nó. Làng trên xóm dưới bắt đầu xôn xao. Đến khi trời tối hẳn, cả làng đổ ra tìm. Người xách theo đuốc, người vác theo lưới, lội dọc bờ sông gọi tên nó “Tựa ơi!” Chỉ có tiếng gió và tiếng sóng đáp lời.

Thằng Tựa chìm nghỉm dưới đáy sông.

Nó không biết bao lâu đã trôi qua. Có thể là một khoảnh khắc, cũng có thể là một vĩnh hằng. Nó chỉ nhớ rằng có một cơn sóng lớn đập xuống, rồi mọi thứ tối sầm lại. Khi nó mở mắt, xung quanh là bóng tối. Một màn nước dày siết lấy nó. Nó há miệng, nhưng không phải để thở, mà là để nước tràn vào. Một nỗi sợ hãi tột cùng chồm lên như con thú hoang trong lòng nó.

Nó quẫy đạp, tay vung loạn xạ, nhưng nước cứ dìm xuống, kéo nó vào tận sâu trong đáy sông. Lồng ngực nó nhức nhối, như có hàng ngàn con dao đâm vào. Nó thấy ngực mình căng lên, tắc nghẹn.

Chết thật rồi! Ý nghĩ ấy xoẹt qua đầu nó, như một tia chớp. Nó không muốn chết! Không thể chết! Nó còn mẹ, còn nhà, còn cả một cuộc đời phía trước. Và con Hĩm nữa, tuy mới quen. Nó gồng mình, cuộn tròn như một con thuồng luồng. Nó đạp mạnh, dồn hết sức bình sinh trườn lên. Nó vươn tay, cảm giác như đang với vào một khoảng không vô tận, không có điểm tựa. Nước cứ níu, cứ kéo, cứ ghì chặt lấy nó.

Rồi đột ngột, nó trồi lên mặt nước. Không khí!

Tựa há miệng, cố hớp lấy một ngụm không khí, nhưng chưa kịp thở thì một cơn sóng khác đã ập xuống đầu. Nó lại chìm. Lần này nước tràn vào miệng, vào mũi, vào phổi. Nó nghẹn cứng, mắt hoa lên, đầu óc quay cuồng. Mình sắp chết thật rồi sao? Một cơn hoảng loạn điên cuồng ập đến. Nó quẫy, nó đạp, nhưng mỗi cử động chỉ làm nó chìm sâu hơn. Phải làm gì bây giờ? Chết trong lòng sông này sao? Không được!

Nó cắn răng, dồn hết chút hơi tàn còn lại, vùng lên một lần nữa. Vai nó ụ lên khỏi mặt nước, tay sải ra quạt mạnh, đẩy cơ thể bồng bềnh trên mặt sóng. Nó gối đầu lên một ngọn sóng, nín thở, giữ mình không bị chìm. Hơi thở nó ngắt quãng, nhưng dần đều lại. Phổi nó đau như bị ai bóp nghẹt, nhưng nó vẫn còn sống. Gió đã bớt gào, sóng đã bớt dữ, nhưng bờ ở đâu? Nó bị cuốn đi xa đến mức nào rồi? Trước mắt chỉ có nước và trời. Nó không biết mình đang ở đâu, cũng chẳng biết phải làm gì tiếp theo.

Nhưng nó biết một điều: nó phải sống. Chỉ cần còn hơi thở, còn sức, nó sẽ tìm đường về nhà. Nó thả trôi một lát, để cơ thể lấy lại chút sức. Mắt nó nheo lại, nhìn về phương xa. Phải có bờ ở đâu đó. Nó chỉ cần bám vào thứ gì đó, một cành cây, một khúc gỗ, một tảng đá… bất cứ thứ gì! Sóng vẫn đẩy nó đi, nhưng không còn hung hãn như trước nữa. Nó cố giữ thăng bằng, hít một hơi thật sâu, rồi sải tay bơi về hướng mà nó đoán là bờ. Mỗi nhịp tay quạt nước, mỗi lần chân đạp, nó đều cảm thấy như đang chiến đấu với cả dòng sông, với cả sự sống và cái chết. Nó không biết mình đã bơi bao lâu. Cảm giác như hàng giờ, nhưng có thể chỉ là vài phút. Cánh tay nó rã rời, chân nó tê cứng. Nhưng rồi, một điều kỳ diệu xảy ra. Ngón tay nó chạm vào một thứ gì đó cứng rắn.

Một nhánh cây khá lớn bị gió bão dập gãy, cuốn trội vào dòng sông. Tựa lập tức níu lấy, vòng tay ôm chặt. Sóng vẫn vỗ, nhưng giờ nó đã có một chỗ dựa. Nó tựa đầu lên thân cây, hít một hơi thật sâu. Hơi thở này, lần đầu tiên trong suốt đêm dài, không còn mùi của cái chết. Xa xa, có ánh sáng le lói. Một mái nhà, một bờ sông… đâu đó có người! Nó bám chặt vào khúc cây, cố gắng giữ vững mình, mặc cho dòng nước cuốn trôi. Giờ đây, nó không còn sợ nữa. Dù trôi đi xa đến đâu, dù dòng sông có muốn nhấn chìm nó bao nhiêu lần nữa, nó vẫn sẽ bơi về. Nó sẽ không chết … Bởi vì, phía trước, có bờ!

Mặt trời đã nhô lên khỏi chân trời cả sào, ánh sáng dịu nhẹ rọi xuống dòng sông Mã mênh mông, những gợn sóng lấp lánh như những vệt bạc kéo dài vô tận. Sông cuồn cuộn chảy, mang theo xác lá, cành khô, rác rưởi từ đâu trôi về. Hai bên bờ sông, lau lách rậm rạp, gió lay từng khóm cỏ, tạo thành những tiếng xào xạc như tiếng thầm thì của đất trời. Xa xa, một vài con thuyền nhỏ lặng lẽ neo lại, lưới đánh cá phơi trên bãi cát còn ướt.

(Còn nữa)

Nguyễn Quốc Bảo

*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 1)

Có thể bạn cũng quan tâm