Chuyện niên thiếu của tôi

Tựa cựa mình, cảm giác thân thể mình nặng trĩu như đeo đá. Nó không biết mình đã nằm trên bờ bao lâu. Một ngày? Hai ngày? Hay lâu hơn? Cả người ê ẩm, chân tay tê dại, nhưng ít ra nó còn sống. Đầu óc nó nặng chịch như có ai nhét vào đó một tảng đá, nhưng nó vẫn cố ngồi dậy. Đất dưới lưng ẩm ướt, lạnh buốt. Khi vừa chống tay ngồi lên, nó bỗng khựng lại, rồi há hốc miệng. Trên ngực nó, một cái bao bố củ nâu dính chặt vào thân thể.
Ơ hay! Nó chớp mắt, nhìn chằm chằm vào miếng vải nhăn nheo đã sờn, sực nhớ lại những lúc quăng quật giữa sóng gió. Không ngờ củ nâu lại theo nó vào sinh ra tử, lạc trôi cùng nó suốt những ngày qua. Nó nhếch miệng cười, một nụ cười méo mó, vừa khô khốc vừa chua chát. Sống chết cận kề mà cuối cùng vẫn còn có thứ gì đó bám theo nó.
Bụng nó cồn cào, trống rỗng như một cái thùng rỗng đánh kêu. Cơn đói quặn lên từng cơn. Tựa liếm môi, mắt đảo quanh. Chẳng có gì ngoài lau lách và đất cát. Nó phải đi, phải tìm thôn xóm, tìm gì đó mà ăn. Nó lảo đảo đứng dậy, đôi chân mềm nhũn như cọng bún. Tựa dò dẫm bước đi, mỗi bước là một cơn đau nhói từ bàn chân lên tới tận óc. Nó men theo bờ sông, mắt căng ra tìm kiếm. Không biết nơi đây có thôn xóm nào gần không, cũng chẳng biết hôm nay là ngày mấy. Trong đầu nó chỉ có một ý nghĩ duy nhất: thoát chết đuối bây giờ phải sống chứ.
Nó đi, cứ đi mãi, lê chân qua từng bãi đất bồi, vượt qua những lùm cỏ cao ngút. Có khi nó vấp ngã, có khi dẫm phải gai nhọn mà giật bắn cả người, nhưng nó không dừng lại. Khát quá, nó cúi xuống vốc nước sông lên uống, mặc kệ vị tanh nồng của phù sa. Cơn đói hành hạ khiến mắt nó hoa lên, nhưng nó vẫn cứ đi. Mãi đến chiều hôm ấy, nó mới thấy một mái nhà tranh thấp thoáng phía xa. Tựa khựng lại, tim đập thình thịch. Nó không biết đây là đâu, không biết người trong thôn là ai, nhưng nó không còn lựa chọn. Nó cần thức ăn, cần một nơi để nghỉ.
Nó chầm chậm bước vào thôn, lòng thấp thỏm. Nhà cửa rải rác, mấy đứa trẻ chơi đùa trước sân, người lớn bận bịu với công việc. Khói bếp bay lên từ một mái nhà, mùi cơm cháy thơm lừng khiến bụng nó càng quặn lại. Nó nuốt khan, tiến về phía một bà lão đang ngồi đan rổ trước hiên. “Bà ơi…” – Giọng nó khàn đặc, yếu ớt như sắp đứt hơi.
Bà lão ngẩng lên, thấy một thằng trai trẻ rách rưới, mặt mũi bám đầy bùn đất, mắt trũng sâu, chân đi không vững. Bà nhìn nó một hồi lâu, rồi cất giọng trầm ấm: “Cháu từ đâu tới?” Tựa há miệng, nhưng cổ họng khô khốc, chẳng thốt ra được lời nào. Nó chỉ biết lắc đầu. Bà lão thở dài, rồi đứng dậy, vẫy tay gọi vào. “Lại đây, uống miếng nước đã.” Nó lao đến như một kẻ sắp chết khát, vớ lấy bát nước lạnh, uống một hơi cạn sạch. Bà lão nhìn nó, ánh mắt đầy thương cảm. “Chắc con đói lắm rồi.” Tựa gật đầu. Nó đói đến mức có thể ăn cả nắm đất nếu có thể ăn được. Bà lão bưng ra một chén cơm nguội với vài miếng cá khô. Tựa run rẩy cầm lấy, ăn ngấu nghiến như sợ có ai giật mất.
Ba hôm sau, khi sức đã hồi phục, Tựa mới lững thững đi bộ trở về làng. Nó đi qua những cánh đồng xanh rì, qua những con đường đất gồ ghề, qua những bụi tre cao vút. Lòng nó rối bời. Nó đã thoát chết, đã sống sót sau cơn giông bão, mẹ nó chắc không biết nó sống chết ra sao, còn đang đợi nó ở trước cửa, ánh mắt tràn đầy lo âu? Mỗi bước đi, Tựa càng cảm nhận rõ hơn sự mệt mỏi trong cơ thể sau một ngày dài cuốc bộ, nhưng tim nó vẫn đập mạnh. Khi bóng làng Bái đao hiện ra phía xa, đôi chân nó như có thêm sức lực. Nó bước nhanh hơn, lao về phía mái nhà quen thuộc, nơi có mẹ nó còn thấp thỏm trong từng giấc ngủ không tròn.
Con Hĩm bồn chồn như có lửa đốt trong lòng. Hết đứng lại ngồi, hết đi vào lại đi ra, nó chẳng biết làm gì ngoài việc tự dày vò mình trong nỗi thấp thỏm. Dưới mái hiên thấp thoáng ánh chiều, Hĩm ngồi bó gối, ánh mắt vô định dõi ra con đường làng dài hun hút. Lòng nó bồn chồn như có lửa đốt. Nhưng cái dáng vẻ sốt ruột ấy chỉ lộ ra khi nó ở nhà một mình.
Mẹ nó còn đang tất bật buôn bán ngoài chợ, bố nó hoặc ngoài đồng hoặc đi họp trên xã. Chỉ có nó với thằng em út loanh quanh trong nhà. Thằng nhỏ đôi khi chạy tới chạy lui, len lén nhìn chị rồi lại phóng ra ngõ. Nó cũng hiểu cái vẻ thấp thỏm của chị, nhưng chẳng dám hỏi han gì.
Hĩm sai thằng em ra làng hóng tin. Nhưng khi thằng nhỏ chạy về, mặt nhễ nhại mồ hôi, câu trả lời chỉ khiến nó thêm bứt rứt.
– Chẳng ai biết anh Tựa đi đâu!
Hĩm khựng lại, miệng lẩm bẩm: “Chi mà lạ vậy…”
Thằng Tựa vẫn biệt tăm. Cả làng xì xào đủ kiểu, người bảo nó bỏ lên tỉnh, kẻ nói nó không khéo đã chết rồi. Nhưng chẳng ai dám chắc. Có người kể rằng hôm trước còn thấy nó ghé qua nhà cô Năm, ăn bữa tiết canh dê, ngủ trưa, rồi xách bị củ nâu ra bến sông. Sau đó, không ai thấy nó đâu nữa.
Hĩm bứt rứt nghĩ mãi. Giữa nó với thằng Tựa có gì đâu? Một đôi lần gặp mặt, vài câu nói bâng quơ, thế mà giờ cái bóng dáng ấy cứ ám ảnh nó hoài. Sao nó lại vớ vẩn đến vậy? Nó gắng xua đi những ý nghĩ quẩn quanh, nhưng càng cố quên, lòng nó lại càng quặn thắt. Chẳng biết từ khi nào, cái tên Tựa đã găm vào tim nó như một mũi kim nhỏ, nhói đau mà chẳng ai hay.
Trời xế chiều, Hĩm phải lo cho lợn, cho gà vịt, cho mấy con thỏ của nó ăn. Lo xong, nó xăm xăm đi vo gạo thổi cơm. Ra vườn, nó nhặt một mớ rau cải, hái ít quả mướp. Trong vĩm còn mấy con cá trích ướp muối, nó đem rửa sạch để rán giòn. Ao sau nhà còn nhiều rau muống, nó vớt lên một rổ đầy, dự định xào tỏi, nước rau thì nấu với cà chua, ăn kèm cà pháo muối.
Gần xong bếp núc, Hĩm thấy mẹ gánh hàng từ chợ về tới ngõ. Mẹ vội đi rửa mặt, lau mình mẩy cho hết bụi bặm ngoài chợ ngoài đường. Thằng em út đã lăng xăng chạy vào nhà, sợ về trễ cơm bị mẹ cho ăn đòn.
Ngoài sân, bố nó, ông Lung, thủng thỉnh dắt chiếc xe đạp cũ vào nhà. Ông đi họp trên xã về, vào nhà, rít một hơi thuốc lào sòng sọc, rồi ra giếng múc nước rửa mặt. Hĩm đã dọn cơm lên chiếu. Bữa nay cũng giản dị như mọi ngày: rau muống xào tỏi, rau cải mướp sào mặn. cá trích rán, tôm rang, canh rau muống. Hĩm sai thằng út xuống bếp bưng ấm chè xanh lên. Chiều nay, nó đã bỏ thêm vài bông hoa bưởi vào ấm chè, giờ hương thơm dìu dịu lan ra khắp gian nhà.
Bố nó thong thả ngồi xuống, rung đùi nhìn vợ con. Ông cầm bát cơm, gắp miếng cá trích bỏ vào miệng, nhai chậm rãi. Một lát sau, ông mới lên tiếng, giọng đều đều:
— Trên xã về, qua làng, nghe họ nói thằng Tựa đâu có chết trôi, chết đường chết chợ gì. Chiều nay, nó đã lù lù dắt xác về nhà, mẹ nó mừng hú vía!
Hĩm giật bắn người. Nó tưởng tai mình nghe nhầm. Nó nuốt vội miếng cơm trong miệng, rồi hết nhìn bố lại nhìn mẹ, miệng há hốc, tim đập thình thịch. Thằng Tựa…đàng nớ, về rồi sao? Mắt nó mở lớn, tim vẫn đập thình thịch, rồi bất giác, cả người nó chợt nhẹ bẫng như trút đi một gánh nặng đè nén bao ngày.
– Anh Tựa… về rồi hả bố? — Giọng nó bật ra, nhỏ đến mức chính nó cũng không nhận ra mình vừa nói gì.
– Ừ, về rồi. Tao vừa đi ngang nhà nó, thấy mẹ nó còn khóc hu hu vì quá mừng.
Hĩm cảm giác máu trong người chảy rần rật. Một luồng ấm áp lan khắp ngực, tràn lên cổ họng, khiến nó nghèn nghẹn. Nó muốn hỏi thêm, muốn chạy ngay đến nhà thằng Tựa để nhìn tận mắt, nhưng chân nó cứ như dính chặt xuống chiếu. Nó nhìn mẹ, nhìn thằng em, nhưng ai nấy vẫn thản nhiên ăn cơm như chẳng có gì to tát. Chỉ có nó là không thể ngồi yên được nữa. Một niềm vui bất ngờ, cuống quýt, run rẩy dâng lên, khiến nó bối rối.
Nó cúi vội xuống bát cơm, nhét một miếng vào miệng nhưng chẳng còn biết mình đang ăn gì. Đôi mắt nó cứ lấp lánh, bàn tay vô thức nắm chặt tà áo. Tim nó đập mạnh như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Hĩm không hiểu vì sao nó lại vui đến vậy. Lẽ ra, thằng Tựa về hay không đâu liên quan gì đến nó. Nhưng bây giờ, chỉ cần nghĩ đến việc nó vẫn còn sống, vẫn đang ở đâu đó trong làng, lòng Hĩm đã như có hoa nở rộ. Bỗng dưng, nó thấy bầu trời bên ngoài cũng trong hơn, gió cũng mát hơn. Thì ra, chỉ có một người trở về, mà lòng nó lại xôn xao đến vậy.
Tựa sáng nay dậy trễ, có lẽ vì còn mệt, với những diễn biến vừa qua. Nó nằm yên trên chõng, ngước mắt nhìn lên mái rơm. Nó vẫn còn chần chừ, chưa thấu đáo hết mọi chuyện. Nó nghĩ, tóm lại mình qua tai nạn, và bằng yên về nhà. Tội nghiệp mẹ già, mừng rối rít, rồi khóc lên hu hu. Tựa thấy thương mẹ quá. Nó lại nghĩ, nếu mình không về, chắc mẹ cũng không sống thêm bao lâu. Nó buồn cười, nó nghĩ nó cũng thương nó, thương cô Năm cho nó ăn tiết canh dê. Và nó ủ ê nghĩ, ông lái đò, không may, đã bỏ mạng dưới sông.
Nó chợt nhớ ra. Còn con Hĩm thì sao, nó có biết mình chưa chết, còn sống về làng không? Chắc nó biết rồi, ông Lung có ghé qua hỏi thăm mẹ con tối qua. Nó lại tự hỏi, đàng nớ biết ta chưa chết, đàng nớ vui buồn ra sao? À mà ta với đàng nớ có chi đâu, mà phải vui với buồn; nó bỗng hơi ghét con Hĩm một tý. Rồi nó nghĩ đến bao bố củ nâu, nó choàng ngồi dậy, miệng than: Chết rồi. Tựa chạy nhanh ra sân, bao bố còn đó, ẩn nhẫn nằm trong góc. Tựa thở phào một cái. Nó lại lắp bắp trong miệng: mình còn sống, mà bao bố cũng không chết. Nó thấy vui lên quá chừng. Rồi nó nói to đủ nghe: Đàng nớ cũng phải vui chứ, ta có củ nâu cho mẹ đàng nớ đây này. Tâm hồn nó lênh lênh như đứa trẻ thơ. Nó vội ra giếng, múc nước rửa mặt lia lịa. Nó sờ lên mặt, thấy râu mọc ra tua tủa, vội vàng đi tìm con dao cạo với mảnh gương vỡ.
Tựa không nghe tiếng động bên trong, nó nghĩ, mẹ còn nghỉ mệt. Bà cụ cũng lớn tuổi rồi chớ sao. Ba bốn ngày bặt tin con, đùng một cái, nó như con ma dẫn xác về nhà. Tựa đi tìm điếu cày rồi lo nấu nước pha chè. Nó hứng chí sục sọi đi tìm gói nụ vối trong bếp. Thuốc lào, trà vối xong, Tựa khệnh khạng đi ra sân. Nó sung sướng nhìn đống củ nâu còn lại, không nhiều. Nó nhìn bao củ nâu cùng thoát chết với mình. Nó mau mắn vào bếp lấy dao phay, và cái đôn ghế. Tựa giơ dao phay lên, bổ xuống một lát, vỏ củ nâu vỡ ra.
Mặt trời lên cao, ánh nắng xối xang. Tựa giật mình cái thót. Ừ, đàn vịt ra sao rồi, còn ruộng lúa. Nó với lấy cái liềm, phóng nhanh ra ngõ, rồi chạy tuốt ra đồng.
Dưới nắng sớm, cánh đồng còn vương hơi sương. Tựa chạy băng qua con đường đất, bước chân nhanh vội vã. Hơi thở vẫn còn chút ít nặng nề sau những ngày kiệt sức, nhưng lòng nó thì nhẹ hẫng. Đàn vịt còn đó, cỏ thì có chỗ lên khá cao, chắc lũ vịt vẫn tìm được đồ ăn trên ruộng. Nó nhìn quanh, thấy vài con đang lững thững lội dưới ruộng, vỗ cánh phành phạch. Tựa khẽ cười, như vừa thấy lại một mảnh đời quen thuộc sau cơn bão lớn.
Nó đi dọc bờ ruộng, liềm cầm chắc trong tay, mắt quét qua từng thửa lúa. Lúa đã trổ đồng, nhưng có chỗ bị ngập nước sâu, lá úa đi. Nó cau mày, nhẩm tính mấy ngày mình vắng nhà, không ra đồng, chắc nước lên mà không được tháo. Tựa bước nhanh hơn, đi thẳng về phía mương nước, cúi xuống xem dòng chảy. Nước còn đọng lại nhiều, phải tìm cách thoát bớt. Nó lội xuống, vạt quần xắn cao quá đầu gối, cắm liềm xuống bờ ruộng, bắt đầu vạch cỏ, thông dòng nước.
Nước chảy róc rách, mang theo lớp bùn đục, lúa dập dờn theo dòng chảy. Tựa đứng lên, vươn vai một cái, thấy lòng khoan khoái. Nó nhìn trời, mặt trời đã lên cao, nắng bắt đầu gay gắt hơn. Nó nghĩ đến mẹ, đến mớ củ nâu trong bao bố, đến con Hĩm hay tin nó trở về, vui buồn ra sao. Rồi nó lại thấy buồn cười, chẳng hiểu sao mình lại ghét con Hĩm một tý sáng nay. Nó tự bảo, chiều nay trời mát rồi mình ra ruộng làm cỏ.
Tựa phủi bùn đất trên tay, khoát nước lên mặt, rồi thong thả quay về. Hơi nước mát làm nó tỉnh táo hẳn. Về đến sân, nó thấy mẹ đã dậy từ lúc nào, đang lom khom nhặt rau trước cửa bếp. Mái tóc bạc của bà lòa xòa trước trán, dáng gầy gò cúi thấp trên rổ rau xanh. Nghe tiếng bước chân, bà cụ ngẩng lên, đôi mắt đục mờ nhưng vẫn ánh lên vẻ yên tâm khi nhìn thấy con trai. Tựa bước lại gần, vỗ nhẹ lên vai mẹ, cười hề hề:
— Mẹ, con còn sống, còn bao củ nâu cũng còn nguyên, mẹ yên tâm đi!
Bà cụ gật gật đầu, thở phào một cái, rồi quay vào bếp. Giọng bà vọng ra, chậm rãi nhưng đầy yêu thương:
– Để mẹ luộc mấy củ sắn, ăn sáng nghe con.
Tựa đứng lặng một lúc. Nó nhìn quanh sân, ngắm bầu trời trong xanh, những giọt nắng lấp lánh trên tán cây xoan trước ngõ. Lòng nó chợt dâng lên một cảm giác yên bình lạ. Chỉ mới mấy hôm trước thôi, nó còn bơ vơ trên bờ sông, chẳng biết rồi đời mình sẽ ra sao. Vậy mà giờ đây, nó lại đứng dưới mái nhà thân thuộc, với mẹ, với những củ nâu suýt chết đuối cùng nó; lúc nãy thì nó ở với ruộng đồng, với đàn vịt. Nó cúi xuống, cầm dao phay, tiếp tục bổ vỏ củ nâu. Lớp vỏ cứng vỡ ra, để lộ phần thịt bên trong, màu nâu sậm. Tựa làm việc một cách chăm chú, tay thoăn thoắt như muốn quên hết những chuyện vừa qua.
Bỗng thằng Út ở đâu chạy ù vào, kéo tay nó giật giật:
– Anh Tựa! Ra đây, ra đây nhanh lên!
Nó chưa kịp hỏi gì thì thấy con Hĩm đã đứng lấp ló ngoài ngõ. Hĩm mặc quần áo cũ, đôi má ửng lên vì nắng hay vì điều gì đó khó nói. Hĩm cất tiếng trước, giọng ngập ngừng, có chút gì đó vừa mừng vừa lạ:
– Đàng nớ… đàng nớ về rồi sao?
Tựa cười, gật đầu:
– Về nhà tối qua.
Thằng Út đứng giữa hai người, nhìn hết Hĩm lại quay sang Tựa, rồi bất ngờ bật cười toét miệng. Hĩm đỏ mặt, lườm em nó:
– Cái thằng phải gió này!
Hĩm hơi chần chừ, bàn tay vẫn nắm chặt vạt áo. Nó chưa biết phải nói gì, nhưng trong lòng thì có hàng trăm câu muốn hỏi. Tựa thấy vậy, cười cười, rồi gỡ rối cho nó:
– Đàng nớ ra sân đi, tớ chỉ cái này vui lắm!
Hĩm ngẩng lên, nhìn Tựa một thoáng rồi bước theo. Nắng ngoài sân rực rỡ thật, chiếu lên mái đầu của hai người, vàng như một buổi sáng rất đỗi bình yên. Tựa dẫn Hĩm đến góc sân.
Tựa nheo mắt, cười cười, rồi đột nhiên chỉ tay vào bao bố nằm lù lù trên nền đất:
– Đố đàng nớ biết cái gì đây?
Con Hĩm tròn mắt, ánh nhìn ngỡ ngàng như đứa trẻ bị bắt gặp đang giấu một bí mật. Hai con ngươi đen láy long lanh như hạt nhãn lồng. Nó bặm môi, nhìn bao bố rồi lại nhìn Tựa, lắc đầu:
– Tớ … không biết!
Tựa khoanh tay, hất cằm, giọng đầy bí hiểm:
– Tớ biết mà, làm sao đàng nớ đoán ra được! Thôi để tớ nói cho hay. Đây là bao củ nâu tớ mua bên thôn cô Năm mấy ngày trước. Tớ lấy đò về nhà, ai dè trời nổi giông. Đò lật. Lái đò mất mạng. Còn tớ thì may sống sót. Bao củ nâu này tớ buộc chặt trên lưng, trôi dập vào bờ. Khi bò lên được, nó vẫn còn dính cứng trên người … Nghe vui không?
Con Hĩm nghe xong, hai tay bất giác lại siết chặt thêm vạt áo. Nó không biết nên cười hay nên khóc. Câu chuyện của Tựa nghe nhẹ bẫng như một trò đùa, nhưng nó tưởng tượng ra cảnh Tựa một mình giữa cơn giông tố, bám víu vào bao củ nâu mà lòng chợt quặn thắt.
Nó quay mặt đi, không muốn Tựa thấy đôi mắt hoe hoe đỏ. Giọng nó nghèn nghẹn:
– Chuyện… thật là lạ đó…
Rồi nó buột miệng:
– Em…
Hĩm buột miệng xưng em. Nhưng kịp dừng lại. Câu nói còn lơ lửng, như một cơn gió thoảng qua mái hiên. Tựa nhìn Hĩm, chớp mắt, nhưng không nói gì. Hắn chỉ khẽ mỉm cười, một nụ cười nhẹ như buổi sáng tinh mơ, khi những hạt sương còn đọng trên lá. Hĩm vẫn quay lưng, bàn tay vô thức vò chặt tà áo cũ. Một hồi lâu, nó hít một hơi dài, quay lại, cố lấy giọng tỉnh bơ:
– Chuyện đàng nớ kể lạ quá, mà nghe thật vui.
Ngoài sân, nắng đã lên cao lắm. Mùi củ sắn mẹ luộc trong bếp bay ra, hòa lẫn với hương đất ấm và mùi khói bếp phảng phất trong gió. Gần ao, vài con vịt đang nghiêng nghiêng cổ rỉa lông dưới bóng cây xoan. Sáng nay, mọi thứ đều bình yên. Và với Hĩm, chỉ cần Tựa còn ngồi đây, bên cạnh nó, là đủ.
Buổi chiều, khi thằng Tựa làm cỏ ngoài ruộng xong, lùa vịt vào lưới, rồi thong thả cuộn tấm lưới treo lên cọc, nó trở về nhà, mồ hôi còn vương trên trán. Vừa bước vào sân, đã nghe mẹ dặn:
– Con lấy một phần củ nâu trong bao bố đem biếu bác Lung gái. Mẹ cũng có đôi vịt bầu biếu ông bà Lung luôn thể. Con thay quần áo sạch sẽ đến nhà người ta.
Tựa thoáng sững lại. Nó không hiểu tại sao mẹ lại đem củ nâu và vịt đi biếu nhà ông bà Lung. Nó rửa mặt, tắm sơ qua, thay bộ quần áo đi làm ruộng mẹ đã giặt sạch, rồi xuống bếp tìm bạn điếu cày và bát chè vối mới hâm lại. Hít một hơi khói thuốc, nó nhìn mẹ, chậm rãi hỏi:
– Sao mẹ lại đi biếu củ nâu, còn cả đôi vịt nhà mình nữa? Mẹ không sợ làng xóm bàn tán à?
Bà cụ vừa lúi húi xếp mớ rau vừa chép miệng:
– Tao thấy con Hĩm với mày…
Tựa ngẩng lên, thoáng nhíu mày, ngắt lời mẹ:
– Cái Hĩm nó đến, chẳng lẽ con đuổi nó về hay sao?
Bà cụ nhìn con trai, ánh mắt hiền từ nhưng ẩn chứa điều gì đó sâu xa. Một lát sau, bà nói, giọng chậm rãi:
– Củ nâu mình có thì chia với người ta. Đồ ăn trong nhà thì chia sẻ, đó là tình nghĩa. Còn chuyện làng xóm, ai muốn nói gì thì nói. Quan trọng là lòng mình sạch.
Tựa im lặng. Hắn cầm ấm chè vối rót ra chén, nhấp một ngụm, vị chan chát lan ra đầu lưỡi. Hắn nghĩ đến con Hĩm, nghĩ đến ánh mắt lấp lánh khi nó nghe chuyện củ nâu, nghĩ đến giọng nói ngập ngừng của nó lúc chiều.
Ngoài sân, gió chiều thổi nhẹ, lùa vào thềm hiên những chiếc lá tre khô xào xạc. Xa xa, đàn vịt đã lặng lẽ rúc đầu vào cánh, ngủ yên trong lưới. Tựa bỗng cảm thấy lòng mình cũng lặng xuống như mặt nước ao mùa thu, chỉ còn vài gợn sóng lăn tăn, không rõ là từ gió hay từ chính tâm tư hắn.
Tựa cầm túi củ nâu, lững thững bước đến nhà ông bà Lung, lòng bập bùng như lửa rơm, không biết phải ăn nói thế nào. Nó đâu quen xã giao, cũng chẳng rành mấy chuyện lễ nghĩa. Trước khi đi, nó đã hỏi mẹ đôi câu, mẹ chỉ cười hiền:
– Con cứ thật lòng mà nói, đâu cần màu mè.
Nhà ông bà Lung không xa, chỉ cách mấy dãy nhà hàng xóm, nhưng đi đến nơi, Tựa thấy chân mình nặng như chì. Nó đứng tần ngần trước cổng một lúc rồi mới bước vào. Bà Lung thấy nó đến thì vui vẻ đón, mời vào nhà. Ông Lung rót cho nó bát chè, chậm rãi hỏi chuyện:
– Nghe nói hôm trước suýt mất mạng ngoài sông hả con?
Tựa gãi đầu, ậm ừ:
– Dạ, cũng may mà trời thương.
Tựa đặt túi củ nâu xuống, ngồi ngay ngắn, rồi chậm rãi kể:
– Chuyện là mấy hôm trước, mẹ con nghe cái Hĩm bảo bác gái đang kiếm củ nâu nhuộm vải mà chưa tìm được. Con có chuyến sang thôn Cô Năm, nên cũng tìm mua được một mẻ khá lớn. Ai dè, lúc về thuyền lật giữa sông, nước xoáy mạnh, cứ tưởng phen này chết và mất cả. May sao, con với cái bao bố củ nâu buộc cứng trên lưng trôi dạt vào đám lục bình, con ôm được kéo lên bờ, thế là con và củ nâu đều thoát chết.
Ông bà Lung tấm tắc khen Tựa khoẻ, đánh nhau với gió với sóng, mà số thật may mắn. Con Hĩm thấy Tựa đến thì chạy trốn biệt vào trong bếp. Bà Lung liếc nhìn theo rồi cất tiếng gọi:
– Con Hĩm, ra đây coi ai tới này!
Chần chừ một lúc, con Hĩm mới rụt rè bước ra, khép nép đứng bên mẹ. Thằng Út tò te đứng một góc, nhìn mọi người, rồi nhanh nhảu xách cặp vịt Tựa đem biếu chạy ra sân.
Ông Lung rút ống điếu, nhồi thuốc, rồi chìa sang phía Tựa:
– Hút đi con, thuốc lào quê bác mới mua, đậm lắm.
Tựa cười gượng, nhận lấy, kéo một hơi, khói cay xộc lên tận óc, làm nó suýt ho sặc. Bà Lung thì sai con Hĩm vào bếp pha chè, lát sau, Hĩm bưng ra một khay chè nóng, cùng một gói kẹo Tết còn sót lại.
– Ăn đi con, kẹo Tết bác để dành đó. Bà Lung thân mật nói với Tựa.
Tựa bối rối, cầm lấy một cục, cảm thấy hơi ngượng ngùng. Nó không biết ăn nói dẻo miệng, chỉ trả lời câu nào ra câu nấy, nhưng cũng không đến nỗi cộc lốc. Trò chuyện một lúc, không khí trở nên ấm cúng, tiếng cười bắt đầu râm ran cả gian nhà.
Khi đã đến lúc về, Tựa đứng lên, cúi đầu chào ông bà Lung xin phép. Con Hĩm rụt rè đi theo mẹ tiễn nó ra ngõ. Gió chiều tối thổi nhẹ, mang theo mùi thơm của lúa non từ cánh đồng xa. Bà Lung đứng nhìn Tựa một hồi lâu, rồi đột nhiên lên tiếng:
– Chiều mai, mời mẹ con cháu sang đây ăn cơm. Tựa thoáng khựng lại, chưa kịp đáp lời, con Hĩm đã len lén liếc sang nó, mặt thoáng ửng đỏ. Tựa trả lời: Thưa vâng, con về nói cho mẹ con biết.
Tựa chào rồi quay lưng bước đi. Trên đường về, ánh trăng non vắt ngang bầu trời, sáng dịu dàng trên con đường làng quen thuộc. Tiếng dế rả rích, hòa cùng tiếng lá tre xào xạc trong gió, như vẽ nên một bức tranh yên bình giữa làng quê.
(Còn nữa)
Nguyễn Quốc Bảo
*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 1)
*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 2)