Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 4)

Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo

Chuyện niên thiếu của tôi

Hình minh họa: AI

Tựa bước ra khỏi cổng nhà ông bà Lung, lòng rộn ràng như trống hội. Cảm giác bồn chồn khi nãy tan biến, thay vào đó là một niềm vui len lén trỗi dậy. Chân nó đi mà như muốn nhảy cẫng lên. Từ bao giờ một bữa cơm sẽ có, lại khiến nó phấn khởi đến vậy? Nó chưa từng nghĩ mình sẽ được ngồi chung mâm với con Hĩm, lại còn được đàng hoàng mời đến chiều mai với mẹ. Cơn gió mát rượi thổi qua, mang theo mùi lúa non dìu dịu từ ngoài đồng, mùi khói rơm quẩn trong không gian. Tựa hít một hơi thật sâu, ngẩng mặt nhìn vầng trăng treo lơ lửng giữa trời. Trong lòng nó, mọi thứ bỗng trở nên sáng sủa lạ thường.

Vừa về đến ngõ, nó đã thấy mẹ đứng chờ sẵn trước hiên, tay phe phẩy cái quạt lá. Ánh trăng soi xuống, bóng mẹ đổ dài trên nền đất. Nhìn dáng mẹ, nó biết bà trông ngóng từng phút một.

– Sao rồi con? Người ta tiếp có vui không?

Tựa cười, bước lại gần, kể mẹ nghe hết chuyện từ lúc mới vào đến khi ra về. Nó kể cả chuyện con Hĩm trốn biệt trong bếp, rồi bà Lung phải gọi mãi mới ló mặt ra. Đến đoạn ông Lung mời hút thuốc lào, nó bật cười:

– Con kéo một hơi mà cay xè mắt, suýt sặc!

Mẹ nó cũng cười theo, rồi chợt hỏi:

– Vậy mai con có đi không?

– Bà Lung mời, mẹ con ta đâu dám từ chối.

Mẹ im lặng một chút, ánh mắt xa xăm như đang nghĩ ngợi điều gì. Một lát sau, bà chỉ nói khẽ:

– Thôi vào bếp đi con, mẹ múc tô cháo trắng ăn với tép rang cho nóng bụng.

Tựa nghe xong thì hí hửng đi vào, lòng lâng lâng chẳng rõ vì tô cháo hay vì điều gì khác. Nó ăn ngon lành, chẳng mấy chốc đã vét sạch tô. Lên chõng nằm, nó trằn trọc mãi không ngủ được. Đầu óc cứ quẩn quanh bao nhiêu chuyện. Nó nghĩ đến bữa cơm chiều mai, nghĩ đến con Hĩm sẽ mặc áo gì, có còn bẽn lẽn như chiều nay không. Nó mơ hồ tưởng tượng cảnh ngồi ăn chung mâm, rồi tự nhiên bật cười.

Nằm mãi không ngủ, nó bò dậy, lần xuống bếp, tìm cái điếu cày của bố ngày trước để lại. Nhồi thuốc, kéo một hơi, khói cay nồng xộc lên mũi, làm nó tỉnh táo hẳn. Hút xong, nó trở lại chõng, vắt tay lên trán, tiếp tục thả hồn theo những suy nghĩ viển vông. Trong tưởng tượng của nó, hình ảnh con Hĩm dần hiện ra rõ ràng hơn. Không biết có phải vì điếu thuốc hay không mà lòng nó thấy ấm áp lạ thường. Cơn buồn ngủ kéo đến lúc nào không hay, Tựa chìm dần vào giấc ngủ, với một nụ cười lấp lánh còn vương trên khóe môi.

Chiều hôm sau, bà Lung quảy gánh hàng từ chợ về sớm. Trên đường đi, bà đã dặn con Hĩm sửa soạn mọi thứ để kịp cắt tiết vịt khi bà về. Cả xóm ai cũng biết, tiết canh vịt là món khó làm, không chỉ vì phải cắt đúng cách mà còn ở khâu đánh tiết sao cho đông mịn, không bở, không tanh. Người thì bảo cứ cắt cổ là đủ, nhưng ngoài chợ có kẻ rành rọt nói, muốn được nhiều tiết, phải cắt ở mỏ hay khuỷu chân. Bà Lung chỉ phì cười:

“Lắm chuyện đấy thôi. Chả cần cầu kỳ, quan trọng là đánh cho ngon!”

Tiết chảy ra, đỏ tươi, được hứng vào chiếc bát sành đã có sẵn ít nước mắm để không đông lại quá nhanh. Trong khi đó, con Hĩm đã lo đun nước sôi, nhúng vịt rồi đem ra ao nhổ lông. Cái nhíp nhỏ xíu trên tay nó thoăn thoắt, nhổ nốt mấy sợi lông tơ còn sót lại. Xong xuôi, nó đem vịt vào bếp, luộc vừa chín tới, rồi vớt ra để mẹ thái những miếng sụn cổ, chân, cánh và lòng, băm nhuyễn, dàn đều lên chiếc đĩa sứ lớn.

Bà Lung cẩn thận đánh tiết với nước xáo, đôi tay thoăn thoắt, động tác thuần thục. “Tiết mà không đánh đều tay, là hỏng hết cả bữa ăn ngon!” – bà lẩm bẩm. Xong xuôi, bà để riêng, chờ cho tiết đông lại thành một lớp mịn màng. Từ chợ, bà cũng mua về một bị lòng lợn tươi. Cũng vẫn đôi tay khéo léo ấy, bà xẻ lòng, rửa sạch, chần qua nước sôi, nấu thêm vừa chín, rồi xếp lên đĩa cùng với thịt vịt đã chặt gọn gàng. Con Hĩm nhanh tay lo cơm canh, còn nồi sáo măng thì tỏa mùi thơm lựng cả gian bếp.

Nhà ngoài, có tiếng ông Lung chào khách. Hôm nay, vợ chồng ông phó chủ tịch xã Hùng được mời sang chơi. Hai người đon đả bước vào, bà Lung vội vàng chạy ra tiếp đón, miệng cười rạng rỡ. Ông phó xã đem tới chai rượu nếp làm quà. Không bao lâu sau, mẹ con Tựa cũng đến. Tựa ngượng ngùng trong bộ quần áo tết, chả dám mặc đồ làm ruộng sợ quê mùa, mà mặc đẹp lại càng thấy bối rối. Nó cứ lóng nga lóng ngóng bên mẹ, tay giống như cái Hĩm, vân vê tà áo như muốn che giấu sự ngượng nghịu. Trong khi đó, con Hĩm diện bộ áo tứ thân mới, hai ông chủ tịch thì áo dài khăn đóng nghiêm trang, thằng út được mẹ diện cho bộ đồ sạch sẽ hơn hẳn ngày thường. Sau ba câu chuyện, Ông Lung kể chuyện Tựa cho ông Hùng nghe, rồi dẫn ông đi xem củ nâu.

Trong nhà, chiếu trên dành cho hai ông xã và Tựa, còn chiếu dưới là chỗ các bà và con Hĩm. Thằng út, được bố cưng, nên cũng chen lên chiếu trên ngồi. Rượu nếp được rót ra, câu chuyện dần rôm rả. Bà Lung tất bật vào bếp, mẹ Tựa và bà Hùng cũng tò mò xin theo. Bếp lửa rực lên ánh hồng, mùi mỡ hành phi thơm nức. Bà Lung bày thịt vịt ra đĩa, con Hĩm đưa cho bà lòng lợn đã trụng lại, mẹ Tựa thì nêm nếm nồi sáo măng. Khi bát tiết canh đã đông lại đẹp mắt, bà Lung trải lên đồ đã làm sẵn, cổ, chân, cánh và lòng, băm nhỏ, rồi nhẹ tay xếp những lát gan mỏng, rắc lạc rang, thêm chút rau ngổ, răm, húng thơm lừng. Mẹ Tựa còn cẩn thận pha chén mắm tôm với chanh và cà cuống, nước mắm gừng tỏi cay nồng, mấy đĩa ớt xanh đỏ cho đậm đà hương vị. Con Hĩm không quên bánh đa nướng giòn tan và hai ấm chè vối để sẵn.

Mâm cỗ bày lên nhà trên, mọi người ngồi vào chỗ. Trước khi nhập tiệc, ông Lung hắng giọng, nói sơ chuyện Tựa bị lật đò, nhắc lại chuyện bao bố củ nâu trên lưng nó, rồi cười bảo: “Hôm nay chỉ là bữa cơm đạm bạc, mừng cho thằng Tựa tai qua nạn khỏi, cũng là dịp tiếp khách quý!” Ông Hùng gật gù, hai bà khách tủm tỉm cười. Con Hĩm cúi đầu, hai má đỏ bừng khi thấy mấy bà cứ đăm đăm nhìn nó, làm nó xấu hổ muốn chết. Nhưng khi mọi người nếm miếng tiết canh đầu tiên, ai nấy đều ồ lên khen ngợi. “Ngon đáo để!” – ông Hùng vỗ đùi đánh đét. Tựa, trong bộ quần áo tết, lóng ngóng cầm chén, thử một miếng tiết canh, so sánh với món tiết canh dê mà nó từng được ăn bên cô Năm. Hai món đều ngon lạ lùng, nhưng hôm nay tiết canh vịt ngon hơn. Nó cũng được cụng ly rượu nếp với hai ông chủ tịch, nhưng vẫn chưa hiểu hết chuyện gì đang diễn ra quanh mình. Một lúc sau, nó mãi nghĩ mà quên trả lời ông Hùng về chuyện ruộng nương.

Cũng là trong con lợn cả thôi, mà mỗi thứ ăn ngon một cách: gan thì ngòn ngọt mà lại đăng đắng, ăn vào với rau mùi lại thấy thơm thơm; tim nhai vào trong miệng mềm cứ lừ đi; cổ hũ giòn tanh tách; lòng tràng sậm sựt; còn ruột non thì quả là đáo để, mới cắn tưởng là dai nhưng kỳ thực lại mềm, ăn vào cứ lo nó đắng thành thử đến lúc thấy nó ngọt và bùi và thì cái bùi cái ngọt ấy lại càng giá trị. Rượu vào, câu chuyện càng thêm rôm rả. Ông Lung nâng chén, hào sảng nói: “Ấy, lạ lắm, bác phó ạ! Có tí rượu, lòng lợn tự nhiên nổi hẳn vị lên, cái bùi dường như bùi hơn, cái béo cũng béo hơn.” Rồi ông cười ha hả, gắp một miếng lòng tràng, chấm đẫm mắm tôm chanh, ớt cà cuống, bỏ vào miệng nhai sậm sụt, vẻ mặt đắc ý vô cùng. Thằng út ngồi bên cũng cười, giòn tan như tiếng bánh đa nướng vỡ trong miệng nó. Còn Tựa, vẫn chưa hiểu hết sự đời, nhưng cũng nâng chén cười theo.

Bữa cơm cứ thế mà kéo dài trong không khí rộn rã, chủ khách chuyện trò không dứt. Con Hĩm loáng thoáng nghe mẹ Tựa kể chuyện nhuộm vải bằng nước củ nâu, bà Lung gật gù tán thưởng. Trong khi đó, trên mâm, lòng lợn gần như vơi sạch, chỉ còn vài miếng vương vãi. Bà Lung kín đáo nháy mắt với con Hĩm, ra hiệu đi dọn cơm. Bà Hùng tủm tỉm bảo: “Hay là ăn sáo vịt măng trước, bụng đói ăn cơm sau cho ngon?” Thế là ba bà cùng đứng dậy, rộn ràng như một phiên chợ nhỏ trong gian bếp.

Sau bữa ăn, các bà dọn dẹp, con Hĩm bưng ra những bát chè đậu xanh thơm lừng, bà Lung thoăn thoắt mở lọ dầu hoa cam, nhỏ vài giọt cho thơm. Ông Lung vỗ đùi đắc chí, rít một hơi thuốc lào dài, nhả khói mơ màng rồi phán: “Ăn tiết canh, lòng lợn, vịt luộc, uống chè xanh, mà thiếu điếu thuốc lào, phí cả một bữa ăn ngon!” Ông Hùng và Tựa phá lên cười, răng trắng loáng dưới ánh đèn. Ba bà xỉa răng xong thì têm trầu, nói chuyện cau. Câu chuyện lại tiếp nối, dài như đêm quê không dứt…

Gió khuya mơn man trên những rặng tre ngoài ngõ. Tựa chậm rãi đưa tay đỡ nhẹ mẹ trên đường về, lòng nó lặng lẽ ngẫm nghĩ về một ngày tràn đầy hương vị, nghĩa tình. Mẹ Tựa xem ra thú vị tình thâm, nhìn con rồi nói: “Bữa tiệc hôm nay ở nhà ông bà Lung, tựa như đám hỏi”. Thằng Tự tủm tỉm: “Hỏi ai cho ai, thưa mẹ?”. Mẹ con không ai bảo ai cùng bật cười, tiếng cười khẽ mà ấm áp trong đêm khuya.

Mẹ Tựa kéo chiếc khăn trùm kín đầu, giọng bà nhỏ nhẹ nhưng không giấu được nét cười:

– Còn hỏi ai nữa, con Hĩm chứ ai! Cả bữa, người lớn cứ liếc con, rồi lại nhìn con bé. Chẳng lẽ con không nhận ra?

Tựa hơi cúi đầu, đôi má nóng bừng. Nó nhớ lại ánh mắt của bà Hùng, những câu bâng quơ của bà Lung, rồi cả nụ cười kín đáo của con Hĩm khi gắp miếng lòng non vừa ăn vừa che miệng. Chuyện này… chẳng lẽ nào?

– Mẹ cứ nói quá! Nó lúng túng. Mà đám hỏi cho con, sao lại làm tại nhà bố mẹ cái Hĩm?

Mẹ Tựa cười khẽ, cái cười của người từng trải, nhìn xa trông rộng. Bà nhẹ giọng:

– Ở quê mình, những bữa cơm như thế chẳng khác nào lời ngỏ. Nhà mình nghèo, nhưng nhà ông Lung đâu phải hạng giàu có gì nhiều cho cam. Bà Lung buôn thúng bán mẹt, nên gia cảnh cũng khá hơn nhà người ta. Con Hĩm nết na, chịu khó, mẹ thấy hai đứa cũng có duyên.

Tựa im lặng, để mặc lời mẹ tan vào gió đêm. Đám lá tre xào xạc, như lời thì thầm của làng quê, của những cuộc đời lặng lẽ mà chan chứa yêu thương. Xa xa, ánh đèn trong nhà ông Lung vẫn còn le lói, chắc người ta vẫn đang rôm rả bát chè cuối. Đêm nay, có lẽ cũng là một đêm mà lòng Tựa không sao yên giấc.

Tựa bước chậm hơn, cảm giác như từng lời mẹ nói đang thấm dần vào lòng. Hĩm ư? Nó chưa từng nghĩ xa đến thế, nhưng hình ảnh con bé với đôi mắt trong veo, mái tóc lúc nào cũng buộc gọn gàng, bỗng dưng hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết.

– Mẹ à, nhưng mà… — Nó ngập ngừng.

Mẹ Tựa dừng bước, nhìn con trai, giọng bà vẫn trầm ấm:

– Nhưng mà con còn trẻ, chưa nghĩ đến chuyện lấy vợ? Hay con sợ nghèo, sợ lo cho vợ con không nổi?

Tựa lặng người. Phải, nó chưa từng dám nghĩ đến việc lấy vợ. Ngày ngày, nó vẫn lặn lội ruộng đồng, cơm ăn có khi bữa no bữa đói. Lấy vợ rồi, có lo được cho người ta một cuộc sống đỡ vất vả hơn không?

Thấy con im lặng, mẹ Tựa thở nhẹ một hơi:

– Đàn ông có cái khổ của đàn ông. Nhưng con ạ, một mái nhà ấm êm, một người vợ biết san sẻ, thì nghèo cũng hóa giàu.

Bà nói rồi tiếp tục bước. Gió đêm vẫn thổi, nhưng trong lòng Tựa bỗng dậy lên một cảm giác lạ lùng. Không phải lo lắng, cũng chẳng hẳn là e ngại. Mà giống như… một tia sáng len lỏi trong cái tối mịt của những ngày mưa nắng cơ cực. Xa xa, có tiếng chó sủa vẳng lại. Một bóng người nhỏ nhắn thấp thoáng trước cổng nhà ông Lung. Hình như con Hĩm còn chưa đi ngủ…

Từ hôm ấy trở đi, từ hôm đám hỏi như mẹ Tựa khôi hài bảo, con Hĩm thằng Tựa gặp nhau như cơm bữa. Chẳng ai bàn tán gì nhiều trong làng, có đám hỏi đấy phải không à. Họ nói thêm cho vui, thằng Tựa tốt số, cái Hĩm tốt duyên. Chuyện Tựa xém chết chìm, chuyện củ nâu, thêm mắm thêm muối vào. Hễ có dịp họ lại đem câu chuyện đầu môi, mà kể đi kể lại cho nhau nghe, thêm vào và bịa ra những chi tiết mới. Đám trai trẻ thì không đứa nào dám tỏ ra ghen ghét, chúng nó nghĩ thằng Tựa cũng bảnh đấy. Nó rơi tòm lõm xuống sông, cá không ăn thịt nó. Đám con gái thì giả vờ chê ủng chê eo, cái Hĩm sao nhún nguời chịu thằng con trai như thằng Tựa. Thế nếu ai hỏi lại, trong làng có đứa nào hơn hẳn thằng Tựa không, mấy ả giả vờ điếc không nghe.

Chuyện vui lòng thằng Tựa, nhiều hôm nó không cần ăn cơm mẹ bới. Con Hĩm xách giỏ ra đồng cho nó cơm, rau xào, cá kho, tôm rang, đậm đà hơn nhiều. Tưạ khi nông nhàn, thì cái Hĩm rủ nó đi xốc hến ở chân núi có khe nước chảy, bên kia đường cái quan. Có hôm, lượn qua nhà ông Đốc Chó, xây nhà chung quanh có đào lạch nước. Nhiều trưa, thấy chăn bông phơi ngoài rào, Hĩm nói với Tựa, chắc các tiểu thư đêm qua đái dầm. Mẹ Tựa biết chuyện chỉ cười trừ. Ông Lung bà Lung nhìn con Hĩm với ánh mắt bao dung. Thằng út thì khỏi nói, ai hỏi chuyện về chị nó với thằng Tưa, nó đặt bày ra thêm, vẽ hươu vẽ vượn ra thêm, cho chuyện hào hứng.

Tựa và Hĩm cứ như thế … có hôm mưa đổ rào rào, nước ruộng dâng cao, Tựa và Hĩm lại xách giỏ rủ nhau ra đồng bắt cá rô tức nước nhảy lên bờ. Chẳng ai bảo ai, cứ mưa xuống là hai đứa lại lội ruộng, mắt sáng rỡ khi tóm được con cá rô vàng óng, giãy đành đạch trong tay, mà phải cẩn thận, cá rô nhiều vảy nhiều gai sắc lắm. Có những buổi chiều, Hĩm lẽo đẽo theo Tựa, xem nó đi bỏ cành bắt cá cặm hay mở ruộng nước chảy, chờ tôm tép theo dòng trôi vào. Tựa tỉ mỉ, thỉnh thoảng còn chỉ cho Hĩm cách chọn chỗ để đặt lờ sao cho trúng nhiều tôm tép cá nhất. Hai đứa cười đùa, chân bùn đất lấm lem nhưng lòng nhẹ nhõm lạ thường.

Những đêm trăng sáng, mẹ con Hĩm không may vá, chỉ ngồi ngoài hiên hóng gió, Hĩm chải đầu cho mẹ, còn bà Lung thì thở dài nhè nhẹ, nghĩ ngợi chuyện đời. Lâu lâu, bà lại hỏi: “Con ưng bụng thằng Tựa thật hả?”. Hĩm không trả lời ngay, chỉ lẳng lặng gỡ từng sợi tóc rối cho mẹ, rồi cười khẽ: “Tựa tốt, mẹ biết mà”. Chuyện nhà mình, chuyện nhà nó, cứ thế rì rầm trong những buổi tối mát lành. Nhưng rồi, không chỉ có chuyện đôi lứa, mà là chuyện lớn hơn, chuyện của cả làng, của cả nước.

Những năm ấy, chiến tranh không còn xa lạ, mà đã tràn đến tận cổng làng. Ông Lung mỗi lần lên xã về, ngồi hiên nhà, ngồi bệt xuống bậc thềm, rít điếu thuốc lào rồi thủng thẳng kể:

– Mấy hôm trước có mấy ông trên tỉnh trên huyện về họp. Người ta nói phải chuẩn bị tinh thần, bên kia càng ngày càng đánh mạnh. Địch dạo này càn dữ lắm. Mẹ con Hĩm ngồi yên nghe, Hĩm vân vê mép áo, hỏi nhỏ:

– Người ta có bắt trai tráng đi bộ đội nữa không bố?

Ông Lung gật gù:

– Có, thanh niên trai tráng là …

Cả nhà im lặng. Ai cũng biết, những người ra đi, có khi chẳng bao giờ trở về. Hĩm lặng lẽ nhìn ra sân, nơi ánh trăng rọi xuống một mảng sáng vằng vặc. Không biết giờ này, Tựa đang làm gì? Nó có nghe những chuyện này chưa? Những ngày sau đó, câu chuyện chiến tranh càng lúc càng lấn vào những bữa cơm, những câu chuyện làng trên xóm dưới, nhà nào cũng thấp thỏm lo âu. Tựa vẫn đi canh nông, thả lờ, đi bắt cá, nhưng trong lòng nó cũng nặng dần những suy nghĩ…

Rồi chuyện đó cũng đến. Hậu cần, bài toán cân não trong chiến tranh chống địch. Ông Lung có tin tức mới, về cho cả nhà biết. Bộ đội tiền tuyến cần gạo, có gạo cho họ không dễ, vì cứ một kí lô gạo đến đích thì mất cả chục kí ăn dọc đường. Tổng cục Hậu cần, cho biết tiếp tế gạo từ phía nam là Thanh Hóa lên. Họ cũng động viên xóm làng gần tiền tuyến góp gạo cho bộ đội. Khu sông Mã, gạo cần chuyển từ Thanh Hóa lên Vạn Mai. Rồi trung ương còn kể; “Được mùa Nông cống sống mọi nơi”. Mà đâu phải gạo không, bộ đội cần nhiều thuốc lào.

Gần trưa hôm ấy, ông Lung trên xã về thôn Bái đao. Ông gọi làng, gọi ai ngoài ruộng cũng phải mau về đình nghe thông cáo. Dân làng nhốn nháo. Ông Lung sợ họ níu áo trốn vào nơi kin kín, đơi đông đủ ông mới ra mặt. Rồi ông mở tờ giấy trong túi ra, nói to vanh vách. Cơ quan hậu cần tỉnh đưa lệnh về xã gọi dân công đi tiếp tế tiền tuyến. Xã đã khảo xét từng thôn. Đã có danh sách trai tráng nhập đoàn dân công. Rồi ông đọc từng tên một. Tựa nghe đến tên mình thì chưng hửng. Nó hơi lo. Nó nghe tin đồn khá lâu.

Rồi … chuyện đâu chuyện đó cũng đến. Những ngày yên ả với con nước, với giỏ tôm, cá rô nhảy bờ, với những buổi chiều lững thững đi xốc hến bên khe nước cũng chẳng còn dài. Mẹ Tựa nghe tin, không nói gì, thở dài thườn thượt, lặng lẽ nhóm bếp, thổi cơm, thỉnh thoảng lại đưa tay quệt ngang trán như có gì vướng bận. Tựa nghe tin đồn kể lại cho mẹ nghe. Người ta bảo đường đi gian nan lắm. Đâu phải cứ vác gạo đi là đến nơi. Địch phục kích, bom rải, bộ đội chưa ăn được hạt nào mà dân công có khi đã bỏ xác dọc đường. Lại còn chuyện sốt rét rừng, muỗi độc, bao nhiêu người đi mà không về. Tựa nói nó không sợ khổ, nhưng nó sợ cái chết âm thầm, không kèn không trống, mà mẹ cũng không hay. Nó mới sống chưa trọn hai mươi mùa lúa, còn bao nhiêu ngày nắng, ngày mưa chưa đếm đủ.

Cái Hĩm từ đình chạy thẳng đến nhà Tựa, mặt mày hớt ha hớt hải, áo cánh vướng vào cành tre ngoài ngõ cũng chẳng buồn gỡ. Nó thở dốc, tay còn run, chạm vào cánh cửa mà không kịp gọi. Anh Tựa! Tựa đang dợm bước ra sân, thấy Hĩm thì khựng lại. Chưa bao giờ nó thấy con Hĩm hoảng hốt như thế. Gì vậy? Hĩm ngước lên, đôi mắt hoe hoe đỏ, giọng gấp gáp:

– Họ bảo đoàn dân công đi đợt này phải gùi gạo qua vùng địch phục kích! Người ta nói… nói nhiều người đi trước không ai về…

Tựa mím môi. Chuyện ấy nó cũng đã nghe, nhưng giờ nghe chính Hĩm nói ra, lòng nó lại nặng hơn. Nó vươn tay kéo nhẹ tay áo Hĩm, kéo nó ngồi xuống bậc hiên.

– Ừ. Nhưng… phải có người đi.

– Nhưng sao lại là anh?

Tựa cố gắng cười, nụ cười có chút gì đó vừa buông xuôi, vừa cam chịu:

– Vì anh có tên trong danh sách bố Hĩm đọc.

Hĩm siết chặt vạt áo trong tay. Nó muốn nói, muốn bảo anh Tựa ở lại, muốn bảo anh chạy trốn đi, hay hai ta chạy trốn đi, nhưng những lời ấy nghẹn lại nơi cuống họng. Tựa nhìn Hĩm, rồi khẽ xoa nhẹ lên mu bàn tay nó.

– Đừng lo. Anh đi rồi anh về.

Gió khuya lùa qua hiên nhà, làm tán tre ngoài ngõ xào xạc. Hĩm im lặng rất lâu, rồi bỗng nhiên cúi đầu xuống, giọng nhỏ đến mức chỉ có Tựa nghe được:

– Anh nhớ về… phải không?

Tựa không đáp. Nó chỉ ngẩng lên, nhìn vầng trăng tròn treo lơ lửng giữa trời, lòng bỗng dưng se sắt. Nó buồn quá. Nó với cái Hĩm chưa vui được với nhau bao lâu, vậy mà giờ đã phải xa. Chiến tranh, bao đời nay vẫn vậy, có ai tính được khi nào dứt? Nó biết chuyện đi dân công không phải như ra đồng cắt lúa, có khi đi một lần là đi mãi. Câu “Anh đi rồi anh về” chỉ là lời trấn an, cả Tựa lẫn Hĩm đều hiểu. Nhưng mỗi người đều có cách đối diện với nỗi đau của mình, có lẽ Tựa cũng đã quen với việc che giấu cảm xúc, trong lòng nó quặn thắt, nó cũng thẫn thờ ra mặt

Hĩm ngồi đó, tay nắm chặt vạt áo, không nói gì thêm. Nó biết có năn nỉ ai bây giờ, mà năn nỉ cũng chẳng đổi được gì. Tựa sẽ phải đi, sẽ phải rời xa nơi này, rời xa những người mà nó thương. Một lát sau, Hĩm đứng dậy, lặng lẽ bước vào trong nhà, đôi mắt nhòe đi bởi những giọt nước mắt không kịp rơi. Tựa nhìn theo bóng nó, lòng nặng trĩu. Mặc dù biết rằng không thể giữ được anh lại, nhưng trong khoảnh khắc ấy, Hĩm vẫn mong muốn điều gì đó khác, một cái gì khác nào đó có thể xảy ra để mọi thứ không còn quá muộn màng.

Chiều hôm ấy ăn cơm trễ, phải đốt cây đèn dầu lạc lên. Mẹ con Tựa nhìn nhau. Cả hai đều không nuốt nổi miếng cơm. Tựa thấy mắt mẹ đen khô như tàu lá chuối dập nắng. Mẹ có nhiều chuyện nói với con lắm, nhưng sợ mở miệng thì khônh dằn được nước mắt. Thằng Tựa mặt khó đăm đăm. Đầu óc nó nhộn nhạo lên cả rồi. Nó ngồi thừ ra, mẹ nó chan canh vào bát cơm cho nó húp, nó cũng không để ý. Nó biết, những giây phút như bây giờ, hai mẹ con ngồi với nhau, không biết bao giờ có lại.

Mẹ nhìn Tựa, từng đợt thở dài thoảng qua môi bà. Cả căn nhà tĩnh lặng, chỉ nghe tiếng muỗi vo ve, tiếng dầu lạc cháy xèo xèo. Mẹ mím chặt môi, không dám nói, vì bà sợ nói rồi sẽ chỉ khóc nức nở. Cứ nghĩ đến cái ngày Tựa phải rời xa, là bà lại nghẹn lòng. Mẹ không muốn giữ con, dù muốn thế nào đi nữa, Tựa cũng sẽ phải đi dân công. Tựa ngồi yên, không nói, chỉ nghe tiếng mẹ thở không đều. Những tiếng thở ấy như những nhịp đập mệt mỏi, như muốn buông xuôi tất cả. Tựa muốn nói gì đó, muốn an ủi mẹ, nhưng lại không tìm ra được lời nào. Đầu nó trống rỗng, trôi theo những suy nghĩ hỗn độn. Tựa chỉ biết nhìn mẹ, và tự hỏi liệu bao giờ sẽ lại được ngồi như thế này với mẹ, ăn cơm bên nhau, trò chuyện vói nhau. Mẹ chậm rãi đưa tay lên lau nhẹ má, bà cười khẽ, nụ cười mà Tựa biết là cố gượng. “Ăn đi con, đừng để mẹ phải lo thêm,” bà nói, giọng khàn đặc, có chút nghẹn lại.

(Còn nữa)

Nguyễn Quốc Bảo

*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 1)

*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 2)

*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 3)

Có thể bạn cũng quan tâm