Chuyện niên thiếu của tôi

Ông Lung nhìn cậu Út chăm chăm. Ông đâm ra hoảng. Cậu này tuổi chắc cũng không nhớn bao nhiêu, sao ăn nói giỏi thế. Giọng chắc như đinh đóng cột. Ông nghĩ, chắc con, trước sau gì cũng có máu cha trong người. Ông bớt hoảng, lại hơi hả lòng. Bây giờ mọi chuyện khá rõ ràng. Thật đúng, chuyện trong nhà cả mà. Cụ Án nhìn con trai thoả dạ, có phần đắc chí. Bà Án nhìn bà Lung, cười thân tình, người trong nhà. Bà Lung trước sợ bao nhiêu, bây giờ mừng bấy nhiêu. Bà buôn bán ở chợ, bà hiểu mọi chuyện mau hơn chồng. Bà đưa mắt biết ơn nhìn bà Án. Cậu Út, giọng không thay đổi, nói tiếp với ông Lung:
– Chuyện này cũng nhờ ông giúp cho. Tôi đã tìm được hai người đạp xe đạp chở cha mẹ tôi, hai người quảy gánh chở hai em tôi còn ít tuổi, ngồi trong thúng. Chị em tôi đạp xe đạp. Tôi đưa tên những người này cho ông xem. Xin ông dò lại họ, xem mình có hoàn toàn tin cậy được không?
Chuyện trong nhà, cậu Út dùng chữ mình. Ông lại đưa mắt nhìn cậu Út. Ông bây giờ thấy cảm tình với hết mọi người ở đây. Ông yên trí rồi. Ông là người có kinh nghiệm xã hội đấy chứ. Nhà ông Án dinh tê, trốn cải cách điền địa, nhờ đến ông, là chuyện có lý hết chừng. Ông vội đưa chén trà sứ lên môi, nhấm nháp, cái thơm cái ngọt từ trà đọng lại trong miệng. Cậu Út và bà Án nhìn nhau, trong lòng thầm hiểu, mọi việc đã được định đoạt.
Ông Lung đặt chén trà xuống, giọng chắc nịch:
– Cậu Út cứ yên tâm, chuyện này tôi sẽ thu xếp ổn thỏa.
Bà Lung cũng gật đầu phụ họa, lòng nhẹ bẫng, vừa trút được gánh nặng. Cậu Út mỉm cười, cúi đầu thay cho lời cảm ơn. Cụ Án khẽ vuốt râu, đôi mắt sắc bén giờ đây ánh lên một tia hài lòng. Cậu Út nói thêm:
– Cha mẹ tôi thương gia cảnh mẹ anh Tựa. Anh ấy đi tiếp vận, mẹ anh lủi thủi một mình. Trăm chuyện cũng nhờ ông Lung.
Ông Lung nhè nhẹ gật đầu. Quả không sai, gia đình này cao sang đẹp quá. Chuyện gì cái cậu Út này măng sữa, đều định đoạt đâu ra đấy. Ông nghĩ cậu Út đi làm cán bộ, ít nhất phải vào cấp thành uỷ. Ông biết thằng Tựa trước khi đi, nhờ người đi theo, lên ấp gánh lúa về. Ông tự nhủ, chắc lại cũng là chuyện cậu Út nhà ta lo cho đây. Bây giờ ông hiểu, người trong nhà, nghĩa như thế nào.
Cuộc trò chuyện khép lại, nhưng ai cũng hiểu rằng đêm nay chỉ là khởi đầu cho một hành trình mới, một chuyến đi, một chuyến dinh tê nhà cụ Án.
Cũng cả đến hơn mười hai tiếng đồng hồ, nhà ông Án mới đến tỉnh Thanh. Cử hành sớm. Bé chị Bé em ngủ gật ngủ gà trong thúng. Mọi chuyện suôn sẻ. Không gặp máy bay Tây đi bỏ bom. Ông Lung, cắt người đi theo, vừa hộ vệ vừa lo lắng tất cả mọi chuyện. Cả nhà ông Án tới dòng Phan xi cô, đã thấy cha Mẫn và bà Sen đợi ở đó. Tay bắt mặt mừng. Cha Mẫn thì quý ông Án lắm, cha nhớ bao nhiêu đóng góp của ông Án cho nhà dòng. Bà Án không quen, ngồi xe đạp lâu, mỏi mê bà xin phép đi nghỉ. Cô Huệ quen biết bà Sen, từ khi nhà còn ở dinh Án, bà Sen hay lui tới. Cậu Út không tới thẳng ngay nhà dòng, cậu đạp thẳng đến nhà thằng Minh ngựa, bạn thân cậu. Nhà thằng Minh, kháng chiến giúp cửa hàng bán nhiều xe đạp lắm. Toàn xe đạp buôn lậu.
Thằng Minh kéo cậu Út vào sau cửa hàng, nói bô bô: “Tao nhất định mày không biết xe này?”. Nó chỉ một chiếc xe đạp bánh nhỏ, thanh tú. Bánh xe nhỏ mà guidon như xe đạp đua. Rồi nó lại oang oang: “Mày ở Bái đao, làm sao biết xe đạp Sterling! Quý lắm đắt lắm. Tao cam đoan mày, cả khu tư, chỉ có một chiếc Sterling, mà nó ở đây!” Cậu Út đến, nhắc xe đạp lên cao, buột miệng: “Nhẹ thật, Minh ngựa mày, sao có thể nhẹ như thế?” Thằng Minh búng vào khung xe nghe kong kong. Rồi nó cười híp mắt: “Thằng nhà quê. Khung xe là sắt pha Aluminium! Tất nhiên, mày ngu dốt, sao biết được.” Hơn hai năm, cậu Út mới gặp lại Minh ngựa. Nó không thay đổi nhiều. Vẫn cao lêu nghêu. Nó dặn cậu Út: “Mày ở đây, tao lên xin cậu tao tiền hai đứa mình đi ăn phở Cầu Bố.” Cậu Út nghe đến tiếng Phở, muốn xỉu ngay tại chỗ.
Cơm nước, chỗ ăn chỗ ở, đều có cha Mẫn và bà Sen lo hết. Ông Án với cha Mẫn thì chuyện trò thâu đêm suốt sáng. Cha Mẫn lại có cà phê pha mời ông Án. Có cả Chocolat Nestlé. Tỉnh Thanh không xa gì lắm biên giới Tây và Việt minh. Cũng toàn là đồ lậu đấy thôi. Thịt bò phở Cầu Bố, là do uỷ ban nhân dân tỉnh làm ngơ cho mổ bò. Cậu Út đi theo thằng Minh ngựa, vẫn chưa thấy về. Cô Huệ chuyện trò lâu với bà Sen, rồi xin đi ngủ. Bà Án hơi lấy lại sức. Bé chị Bé Tý, nhiều người trông nom, lại được nhà dòng cho ăn ngon nên ít nhõng nhẽo.
Tối hôm sau, cả nhà xuống ghe bến Hàm Rồng. Bà Sen giao dịch với chủ ghe. Ông bà Án không phải lo gì cả. Cậu Út ngủ lại nhà Minh ngựa, hôm sau mới trở lại nhà dòng. Bà Án, cô Huệ, cùng với bà Sen thanh toán vàng lá cho dân buôn lậu. Bà Án nhét vào tay bà Sen vài lá, bà này dãy đành đạch nhưng rồi cũng nhận. Bà có đôi chút mặt hột, bà khóc, đưa tay quết mắt ghèn. Bịn rịn nhiều lắm. Thằng Minh xuống ghe tán gẫu với cậu Út. Cha Mẫn ông Án nói chuyện không dứt. May mà trời tối, ít người đi lại. Cô Huệ lo dỗ Bé chị Bé em. Bà Sen giao cho nhà ghe đồ ăn thức uống đi đêm.
Hai ghe rời bến lặng lẽ, không một tiếng động lớn. Mặt sông Hàm Rồng mờ ảo trong màn sương khuya, chỉ còn ánh đèn dầu leo lét phản chiếu lên mặt nước gợn nhẹ. Ông Án đứng nơi khoang trước, mắt nhìn xa xăm, như cố khắc ghi hình ảnh quê hương Thanh hoá lần cuối. Bà Án kéo tấm khăn lên che mặt, giấu đi dòng nước mắt đang chực trào. Tỉnh Thanh của bà đêm tối, không nhìn thấy gì nữa. Cô Huệ ôm chặt hai bé vào lòng, vỗ nhẹ lưng chúng để ru ngủ, nhưng lòng cô không sao yên. Cậu Út ngồi lặng bên mạn thuyền, ánh mắt đăm chiêu. Minh ngựa về nhà rồi, trước khi đi, nó đưa tay vỗ vai cậu như một lời trấn an không cần nói thành lời. Cha Mẫn đứng nơi mép bến, dõi theo hai chiếc ghe khuất dần trong đêm. Cha lặng lẽ làm dấu thánh, môi khẽ mấp máy cầu nguyện.
Chuyến đi đã bắt đầu, nhưng đích đến còn xa. Nhà ông Án ra đi trong lặng lẽ, mang theo nỗi niềm của một thời đại đổi thay.
Tựa bị xã gọi đi dân công tiếp vận. Mùa đông năm 1951, chiến dịch Hòa Bình mở màn. Bộ đội chủ lực của Việt minh, gồm Đại đoàn 304, 312, 316 và Trung đoàn 66 của Đại đoàn 308, nhận lệnh tiến đánh thị xã Hòa Bình. Để bảo đảm tiếp tế cho mặt trận, các tuyến vận tải dân công từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Khu Tư được huy động. Tựa, từ làng Bái Đao, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, theo lệnh xã đi dân công, chuyển gạo từ quê ra tiền tuyến.
Làng Bái Đao thuộc huyện Nông Cống, nơi từng nổi danh với câu ca, “Nông Cống được mùa, mọi nơi được sống.” Lúa gạo từ đây, cùng với thóc của Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa, Quảng Xương, được gom lại, chở lên tuyến đường tiếp vận. Hàng vạn dân công từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Phú Thọ, Hòa Bình… nối nhau thành dòng chảy người, gánh thóc, gạo, muối, đạn dược ra trận.
Từ Nông Cống, đoàn dân công Tựa đi qua cầu Ghép, vượt sông Mã ở bến Hàm Rồng, rồi men theo đường 15 lên Bá Thước, vượt đèo Lũng Cao để đến Mường Khô, Mường Lát. Gạo được chuyển dần từ miền xuôi lên miền ngược, qua những con đường rừng heo hút, len lỏi giữa núi đá và suối sâu.
Tựa, trai làng Bái Đao, người như cột đình, vai rộng, lưng thẳng, bắp tay quấn dây thừng cũng đứt, được chia phải vác 50 kg gạo trên vai. Con đường tiếp vận đầy rẫy hiểm nguy, mưa phùn lạnh buốt, sương mù dày đặc che lối đi, lối mòn trơn như đổ mỡ. Đêm đến, bọn Tựa ngủ co ro trong những lán dựng tạm, quấn vội tấm chăn mỏng, nghe tiếng côn trùng rỉ rả giữa rừng sâu.
Tựa phải đi dân công, trong đầu Tựa, nó không biết cách mạng là gì, mà nó cũng đếch cần biết. Nó chỉ biết cày bừa làm ruộng, có thóc gạo nuôi mẹ, nó biết con trâu bạc, luỹ tre làng, cái Hĩm và đống củ nâu. Có những hôm, Tựa vừa đi vừa nghe tiếng máy bay trinh sát Pháp gầm rú trên đầu. Mỗi khi địch bắn phá, đoàn dân công phải vội vã giấu tải gạo vào bụi rậm, nằm im bất động. Những người yếu sức ngã quỵ giữa đường, có khi sốt rét rừng hành hạ đến mê man, nhưng ai còn hơi thở là còn phải gượng dậy đi tiếp.
Càng lên cao, đường càng nguy hiểm. Đèo Lũng Cao nằm giữa ranh giới Thanh Hóa và Hòa Bình, là một trong những cung đường khó khăn nhất. Gió rét cắt da, những bậc đá lởm chởm khiến chân ai nấy đều bầm dập, mủn máu. Tựa đã nhiều lần suýt ngã xuống vực khi băng qua những đoạn đường chỉ rộng bằng bàn chân, bên dưới là vực sâu hun hút.
Một buổi tối, đến thung lũng gần bản Kho Mường, Tựa cùng vài người khác chia nhau nắm cơm vắt, cơm khô. Tựa được mẹ bới cho gói ruốc xả, nó uống nước suối cầm hơi. Tựa ngồi bó gối, mắt dõi lên đỉnh núi mù sương. Bên cạnh nó có Dực, còn Mão, và thằng Sâm nhỏ tuổi nhất đoàn. Dực là dân Bái đao, anh em thằng Mão và Sâm là dân Cổ định. Mấy ngày đi rừng, chân tụi Tựa đã nhão như bùn, vai tê rần. Tựa nói với Sâm, ngày mai tớ vác bớt cho cậu một gùi. Gió thổi hun hút, tiếng cây cối nghiến vào nhau như tiếng nghiến răng của núi rừng. Tựa nói thêm, đêm nay có gió độc, các cậu cẩn thận.
Mưa rừng trắng trời, mưa rừng xối xả. Con đường mòn qua dãy núi Pha Đin chìm trong bùn lầy. Đoàn dân công gùi gạo nối đuôi nhau, đôi vai trĩu nặng. Gió quất rát mặt. Dưới vực sâu, suối gầm cuộn bọt trắng. Tựa đi đầu, đôi chân trần bám chặt vào đá. Sau nó là Dực, Mão, Sâm. Mão nói Tựa: anh Tựa thủng thẳng, tụi em mới theo kịp. Tựa nói vọng về phía sau, giọng khàn đặc, Mai qua suối Tu Lý, nước lũ lớn lắm!
Tựa quen dậy sớm. Nó có điếu cày đem theo. Chè vối thì không có. Nó vươn vai đứng dậy, mắt lơ đãng, bỗng thấy có dây leo cạnh cây rừng, rồi có những củ nâu mọc lổn nhổn trên đất, củ nào củ nấy to bằng bắp tay. Nó cúi xuống bới thử, đất ẩm, cầm lên một củ nâu tròn lẳn, vỏ xù xì. Làng Bái đao, mẹ già, Hĩm, con trâu bạc, chỉ có mới mấy ngày tháng trước đây thôi. Hôm nay, đúng hôm nay, chỉ còn lại một khoảng trống mênh mang trong lòng. Tựa bóp nhẹ củ nâu trong tay, cảm giác thô ráp của vỏ củ chạm vào da, sao mà củ nâu gần gũi nó như thế. Gió rừng thổi nhè nhẹ, mang theo hơi sương lạnh.
Tựa ngồi xuống, rút điếu cày ra, nhưng lại chần chừ. Không có chè vối, thuốc cũng bỗng dưng nhạt thếch. Nó lại nhìn xuống củ nâu, ký ức lại lặng lẽ tràn về. Hĩm cười, mắt long lanh dưới nắng, nó nhớ hôm ấy, nó chỉ im lặng, không dám nhìn thẳng vào mắt Hĩm, cũng không dám để tay mình chạm lâu hơn. Giờ thì không còn làng Bái Đao, không còn mẹ, không còn Hĩm, không còn con trâu bạc. Chỉ còn núi rừng chập chùng, những đêm tối mịt mùng và những con suối dữ. Tựa ném củ nâu xuống đất, đứng dậy, vươn vai hít một hơi dài, cố xua đi cảm giác trống trải đang xâm chiếm. Tựa ngáp dài, nói một mình, lại phải tiếp tục đi thôi. Tụi thằng Dực, Mão và Sâm cũng dậy rồi. Anh em Mão với Sâm co ro còn phủ chăn trên người, hai đứa tay xoa vào nhau tìm chút hơi ấm. Gió trên đỉnh Pha Đin ào ạt quất qua rừng, mang theo hơi sương lạnh cắt da, cây cối nghiến vào nhau, tiếng suối xa xa vọng lại.
Đúng Tựa nghĩ, khi đến suối Tu Lý, nước lũ ào ào chảy xiết. Những thân cây gãy rạp trôi theo dòng nước đục ngầu, đá tảng cũng bị cuốn đi như lá rụng. Cả đoàn đứng lặng bên bờ, không ai dám bước xuống. Một người đàn ông lớn tuổi, có lẽ là dân bản địa, chậm rãi nói:
“Muốn qua thì phải buộc dây ngang lưng, từng người một lội qua. Ai yếu thì cố bám vào dây, không thì bị cuốn đi như chơi.” Tựa siết chặt mấy quai gùi trên vai, quay sang Mão và Sâm: “Hai anh em đi sau tôi, cẩn thận lắm mới được”. Thằng Sâm mặt tái mét, môi run cầm cập, mắt không rời khỏi dòng nước cuộn tròn như con rắn khổng lồ.
Bốn đứa buộc dây ngang lưng, dò dẫm từng bước xuống suối. Nước lạnh buốt quật vào chân, chảy xiết như muốn cuốn phăng cả đoàn xuống vực. Ai nấy cắn răng chịu đựng, căng người giữ thăng bằng. Khi đến giữa dòng, bỗng có tiếng hét thất thanh phía sau.
– Sâm! Nó bị cuốn rồi!
Tựa quay ngoắt lại. Quả thật, sợi dây buộc vào người Sâm đột ngột căng lên rồi bị giật mạnh, kéo cả người nó ra xa. Mau lắm, không ai kịp nghĩ đến chuyện cứu Sâm. Tựa lắc đầu, thằng Sâm đã mất hút giữa dòng nước cuộn xiết, chỉ còn lại những vòng xoáy trắng xóa. Tựa quát lớn:
– Giữ dây chặt vào! Đừng ai manh động!
Mão run rẩy, hai tay bám chặt vào sợi dây căng cứng. Nó vẫn chưa thấu đáo chuyện em nó bị cuốn đi trong lòng suối. Dực đứng chết trân, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Tựa biết, lẽ ra thằng Mão phải coi chừng em, phải nắm lấy Sâm sớm hơn, phải kéo thằng bé lại, nhưng tất cả xảy ra quá nhanh. Gió rít qua khe núi, nước gầm gào như con thú khổng lồ vừa nuốt chửng một mạng người. Một cành cây trôi qua, chới với giữa dòng lũ, hệt như một cánh tay đang cố bấu víu vào khoảng không vô vọng. Tựa siết chặt dây trong tay, mắt cay xè. Nhưng không có thời gian để đau đớn hay hoảng loạn. Cả đoàn vẫn còn ở giữa dòng nước dữ. Nó nghiến răng, quay sang Dực và Mão:
– Đi tiếp đi! Phải vượt qua đến bờ bên kia! Từ từ theo tôi, từng bước một nhé.
Dực, Mão gật đầu, cố siết mạnh dây, cả bọn lại lầm lũi tiến lên, để lại phía sau con suối đã nuốt mất Sâm.
Một khoảng lâu sau, tụi Tựa mới qua được bên kia bờ. Cả bọn đứng thở dốc, nước lạnh buốt vẫn còn táp vào quần áo. Mão ngồi phịch xuống đất, mặt tái mét, mắt nhìn trân trân vào dòng suối cuộn tròn phía sau, nơi mà chỉ ít phút trước, thằng Sâm còn bám chặt vào dây. Từ mắt khô chảy dòng xuống những dòng suối lệ. Nó nhìn Tựa và Dực, rồi lao đao gục đầu xuống giữa hai gối. Không chỉ có Sâm, mà vượt suối, bao nhiêu dân công cũng đã bị dòng nước dữ cuốn trôi, mất hút vào cái vực sâu không đáy kia. Không ai có thể kịp níu lại, không ai kịp một lời gọi. Tựa chống hai tay lên đầu gối, thở mạnh một hơi. Nó nhìn quanh, những khuôn mặt bầm dập, bùn đất vấy đầy, mắt ai cũng đỏ hoe, nhưng không một ai bật khóc. Ở nơi này, nước mắt chẳng còn giá trị gì nữa. Tựa, giọng khàn khàn:
— Đi tiếp thôi.
Phía trước vẫn là rừng sâu, núi thẳm. Và phía sau, là những cái tên chẳng bao giờ còn nghe thấy nữa.
Tựa và đoàn dân công tiếp tục hành trình, băng qua những cánh rừng rậm rạp, men theo triền núi trơn trượt. Cơn mưa rừng dai dẳng suốt đêm hôm trước khiến con đường thành bùn nhão, mỗi bước đi đều lún sâu, nặng nề. Những đôi chân mỏi mệt vẫn phải tiến tới, không có chỗ cho sự chần chừ. Họ đi qua thị trấn Đà Bắc, rồi tiếp tục xuôi về phía Hòa Bình. Trời gần sáng, sương sớm bảng lảng trên những vạt đồi, che mờ tầm mắt. Khi đoàn vừa qua một con dốc cao, bất chợt, tiếng súng nổ vang rền. Đạn réo lên từ hai bên vách núi. Không ai kịp phản ứng. Một loạt đạn xé gió quét qua đoàn dân công, tiếng người ngã xuống, tiếng kêu thất thanh vang vọng trong rừng sâu. Phục kích!
Mọi người hoảng loạn lao vào các bụi cây, tìm chỗ ẩn nấp. Nhưng súng bắn từ trên cao xuống, không ai biết kẻ địch ở đâu. Người trước ngã xuống, người sau giẫm lên mà chạy. Có kẻ lao xuống khe núi, có người gục ngay bên mép đường. Tựa cũng không kịp nhìn ai, chỉ biết vấp ngã, lăn xuống một sườn đồi đầy lá mục. Tiếng súng dần thưa. Khi trời sáng hẳn, chỉ thấy xác người la liệt. Không ai đếm nổi bao nhiêu người đã chết. Cũng không biết ai còn sống. Tựa không thấy đâu nữa. Thằng Dực, thằng Mão cũng không thấy đâu nữa. Tựa mất tích.
Xa xa, phía dưới thung lũng, một dòng suối nhỏ chảy róc rách, đỏ ngầu như vừa cuốn trôi tất cả. Những dấu chân lẫn vào vết máu loang lổ. Những chiếc nón tả tơi vướng trên bụi cây, lặng lẽ phất phơ trong gió. Mà Hòa Bình còn xa.
Cái Hĩm từ lúc Tựa đi dân công, từng ngày từng giờ ngóng tin. Mỗi chiều, nó lại ra đầu ngõ, nhìn về phía con đường đất đỏ mịt mù bụi, mong bóng dáng quen thuộc trở về. Nhưng ngày qua ngày, chỉ có những cơn gió lùa qua cánh đồng, mang theo hơi lạnh quạnh hiu. Nó đến thăm, mẹ Tựa cũng chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi bên thềm, đôi mắt mờ đục dõi ra khoảng sân trống. Mỗi bữa cơm, bà vẫn để phần Tựa một đôi đũa, một cái bát úp ngược. Cái Hĩm nhìn mà muốn khóc. Nó nhớ hôm Tựa đi, vẫn còn quay lại dặn:
– Tớ đi chuyến này rồi về, đàng nớ đừng có mà khóc.
Hĩm không khóc mà nước mắt cứ chảy xuống, ướt đẫm hai bàn tay.
Chiều nào ông Lung trên xã về, Hĩm níu áo bố chỉ hỏi với ánh mắt mong đợi. Ông Lung lắc đầu. Bà Lung thấy con quằn quại trong khổ đau, bà cũng chỉ biết thương con nhiều lắm. Có lúc, quá chán nản, bà đâm ra thù cách mạng. Một hôm, có người từ trên vùng cao xuống. Họ kể lại chuyện dân công bị phục kích, người chết la liệt. Có kẻ sống sót trở về, có kẻ mất tích không ai tìm thấy xác. Trong đám người đó, không ai nhắc đến Tựa.
Khi cán bộ văn hóa từ tỉnh Thanh về Bái Đao, không khí trong làng bỗng trở nên nặng nề, căng thẳng. Những người mới đến, cán bộ văn hoá, không chỉ mang theo những khẩu hiệu, mà còn là những lời tuyên truyền đầy quyết đoán về cải cách điền địa. Họ hối hả vận động quần chúng, kích động những người dân tham gia vào các phong trào cải cách, hứa hẹn một tương lai mới mẻ. Mặc dù sự hiện diện của họ tạo nên chút ít không khí sôi động, nhưng cũng khiến không ít người dân lo lắng.
Hàng loạt cuộc họp, buổi tuyên truyền liên tục diễn ra, trong đó cán bộ văn hóa không ngừng khẳng định vai trò của lý tưởng cách mạng, tầm quan trọng của đoàn kết giai cấp nông dân và đấu tranh. Những bài hát cách mạng vang lên giữa không gian đầy căng thẳng, như thể gợi nhớ về những hy sinh, những trận chiến mà họ đã nghe qua. Tuy nhiên, giữa những lời kêu gọi ấy, cũng có một sự mơ hồ, một nỗi lo lắng không thể phủ nhận trong lòng những người dân.
Với những người như Cái Hĩm, sự thay đổi không hề dễ dàng. Lòng nó vẫn đầy nghi ngờ, với những câu hỏi không lời đáp về quá khứ ngắn ngỏi đã mất. Nó không thể quên được những ngày tháng yên bình trước đó, cuộc sống còn giản dị, với gia đình, làng xóm, và nhất là với Tựa. Những ngày như hôm nay, Hĩm chỉ muốn giữ lại những ký ức về một thời đã qua với Tựa, và trong lòng nó, không dễ dàng có thể tin vào những lời hứa hẹn. Nó chỉ muốn cách mạng đem Tựa về cho nó.
Lân, trưởng đoàn cán bộ văn hóa, người gốc Nga Sơn, xuất thân trong một gia đình nghèo khó. Nhưng bằng sự nỗ lực tự học, anh đã vượt qua được những khó khăn trong cuộc sống, đậu Diplôme rồi cả tú tài Pháp. Trước cách mạng, Lân là một thầy giáo dạy học ở tỉnh, nhưng khi cuộc sống có cách mạng, anh cũng không đứng ngoài dòng chảy của thời cuộc. Anh gia nhập vào đội ngũ cán bộ văn hóa, được giao nhiệm vụ tuyên truyền, vận động quần chúng.
Một ngày nọ, khi cùng với đoàn cán bộ về Bái Đao, Lân đã bàn với ông Lung, chủ tịch xã, về việc tổ chức một buổi liên hoan để thắt chặt tinh thần đoàn kết trong xã. Tuy nhiên, ông Lung chỉ lắc đầu. Hầu hết trai tráng đã được bắt đi dân công, chỉ còn lại những người già và phụ nữ và trẻ con. Mặc dù vậy, Lân vẫn khăng khăng tổ chức, hy vọng sẽ có cách thức để thu hút sự tham gia của người dân. Bà Lung nói với chồng: Liên hoan với ai, trong làng chỉ còn lại những con ma xó.
Một buổi chiều, trong lúc đang đi dọc con đường làng, Lân gặp Hĩm. Lân goá vợ mấy năm nay. Chắc hẳn có một chút sức hút thoảng trong anh, bởi Hĩm không giống với những người con gái khác trong làng. Anh ta bắt chuyện, nói những lời tán tỉnh, hứa hẹn sẽ cưới Hĩm nếu có dịp quay lại làng lần sau. Hĩm không nói gì, chỉ im lặng nhìn vào khoảng không trước mặt. Với Hĩm, những lời hứa ấy như gió thoảng qua. Nó đã trải qua quá nhiều tổn thương và mất mát rồi, lòng dạ nào còn chỗ cho những lời yêu đương hay ước hẹn. Cái Hĩm ngược lại chỉ thấy bực mình, đâu còn tâm trí để mà nghe những lời nó thấy vô duyên. Nó chỉ có Tựa mà bây giờ cũng không còn nữa. Đôi lúc buồn quá, nó tưởng tượng, giả như cậu Út đem nó theo cùng dinh tê.
**
Năm 1985, cậu Út tỵ nạn ở Mỹ từ biến cố 75, về Thanh hoá. Không còn gì nữa. Cậu Út trở về, nhưng những kỷ niệm xưa dường như đã bị cuốn trôi theo dòng thời gian. Nhà cậu, dinh án, nhà thờ chính tòa, nhà chung, nhà dòng Pham xi cô, nhà dòng Mến Thánh giá, dòng kín, tất cả đều không còn nguyên vẹn như trước. Rừng thông đã lùi vào quá khứ, không còn bóng dáng những ngày xưa cậu đã từng đi bộ qua những con phố ấy. Phở Cầu Bố với thằng Minh mặt ngựa, người bạn cũ, giờ đây cũng chỉ còn lại trong ký ức mờ nhạt, không thể chạm tới. Bà Sen có còn sống không?
Tỉnh Thanh cũng đã thay đổi, chính sách đổi mới khiến không khí ở đây dường như đã có sự chuyển mình, nhưng chưa phải là sự chuyển mình mong đợi. Thành phố vẫn ngơ ngáo, bối rối trong một thời kỳ chuyển giao, nơi mà những giá trị cũ của đảng vẫn chưa lùi xa, còn những giá trị mới lại chưa đủ sức thẩm thấu vào cuộc sống. Cậu Út cảm thấy mình lạc lõng giữa quá khứ vắng lặng và một hiện tại cậu đang chứng nhận. Những gì cậu từng nhớ, những con người cậu từng yêu quý, giờ như những cái bóng mờ nhạt trong ký ức. Quê hương, nơi tưởng chừng sẽ là nơi tìm lại một phần của chính mình, giờ đây chỉ còn lại sự xa lạ, lạnh lẽo. Cậu không thể tìm lại được những điều đã mất, không thể chạm vào những ký ức ấy một lần nữa, và cũng không thể quay lại một thời đã qua. Cậu cũng muốn tìm về Thanh Hóa để tìm lại một phần của những cái gì còn nhớ. Chiến tranh, rồi đảng, đã thổi tất cả ra xa mất rồi.
Cậu Út lần mò về Bái đao. Ở tỉnh đã không còn có lại những gì cậu ảo tưởng, Bái đao, thậm tệ hơn. Cậu Út hy vọng có thể tìm lại một phần tí xíu của quá khứ đã mất. Mảnh đất Bái Đao, vốn dĩ đã bị thời gian và những biến động cuộc đời xé nát, giờ đây tàn tạ hơn nhiều so với những gì cậu nhớ. Những ngôi nhà cũ, con đường quen thuộc trong làng không còn để lại dấu vết, giờ chỉ còn là những vệt nứt nẻ, bụi bặm. Bái Đao giờ như một cái bóng lặng lẽ. Không có không khí của sự sống, trơ lại với những dấu vết mờ nhạt của một thời đã qua. Cậu Út lòng cậu nặng trĩu. Chẳng còn có ai để cậu chào đón, chẳng có cái Hĩm, mẹ Tựa, ông Lung bà Lung.
Ấp ông Án bây giờ là một bãi đá ban. Cậu muốn đi thăm mộ mụ Tương người quản gia, cũng không còn nữa. Cậu Út nhớ lúc bé ở tỉnh thanh có hôm đi học về được mụ Tương bắt chim sẻ nuôi trong dinh án chiên dòn cho cậu Út ăn với canh tôm hoa lý. Mụ Tương có tài kho cá thu nưóng, sáng sớm cá chở lên từ Sầm sơn còn thơm phức. Mụ Tương theo cụ Án từ lâu, khi cụ án còn là tri phủ tri huyện. Cụ Án quê nội ở làng Phù ninh tỉnh Quảng bình. Mụ Tương kho cá thu nướng bằng nồi đất, dưới có chêm máy thanh mía ngọt. ngoài nước màu, mụ Tương pha thêm nước trà vối, cho cá biển mất tanh. Trong nhà ai cũng yêu món này mỗi khi có mưa dầm. Cậu Út nhớ mụ Tương lắm. Có hôm mụ trông người làm rãi và phơi lúa trên sân gạch, trông thấy đôi chim sẻ ríu ra ríu rít bên nhau, mụ ô hô nói to: chết rồi, hai con chim này phải lòng nhau. Tất cả những thứ đó là một phần không quên được trong tim cậu Út.
Cậu Út muốn sao gặp lại được ông cố Phới. Cố Phới có nghề bán rong nước mắm. Có nhiều lần vào dinh án bán dạo, cậu Út hay đùa chơi ba xạo với ông. Bà cố Phới buổi tản cư, tắm mưa gội nắng, sưa lông sưa thịt chết mất rồi. Cậu nghĩ, nếu còn ai đó trong làng, để nhờ cố Phới giúp đãi làng vài chiếu mộc tồn. Bây giờ trong làng tiệc tùng, người ta không uống rượu trắng nữa mà uống rượu vodka cất trên tỉnh.
Những gì đã qua chỉ còn là những mảnh vỡ của quá khứ, những mảnh vỡ của một thời gian đã xa, không thể nào lấy lại được. Củ nâu ấy, với thằng Tựa, mẹ già ấy và con Hĩm, con trâu bạc, ông Lung bà Lung, tất cả còn lại là những kỷ niệm mơ hồ, những ý nghĩ lẩn quẩn trong đầu, buồn cười mà cũng đau đớn. Người trong nhà cả đấy mà, câu nói ngộ quá. Ông Lung mãi mới hiểu ra. “Thưa cụ bao giờ cụ định đưa cả nhà dinh tê”. Các câu chuyện cũ như những bóng ma, một vòng quay không dứt, và những nhân vật ấy, dù đã thay đổi, dù đã mờ dần, vẫn hiện diện đâu đó, trong một góc khuất của ký ức Cậu Út. Dù đã trở về tỉnh về làng, nhưng vẫn không thể tìm lại những gì đã mất. Những gì còn lại, chỉ là cái nhìn về một tỉnh một làng quê đã lùi vào quá khứ, nơi những hình bóng thân quen giờ đây đã hòa vào đất trời, tất cả nhạt nhòa theo thời gian.
Ghi chú: Chuyện tiết canh, lòng lợn, lấy ý của Vũ Bằng.
Nguyễn Quốc Bảo
*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 1)
*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 2)
*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 3)
* Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 4)
* Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 5)
*Truyện vừa Nguyễn Quốc Bảo: Chuyện củ nâu (Kỳ 6)