“Nhập Khẩu Cô Dâu”, “Xuất Khẩu Lao Động”: Khi con người bị gọi bằng tên hàng hóa
Chúng ta tức giận. Và cơn giận đó có lí do.
Một Thị trưởng (mayor) ở Hàn Quốc nói đến chuyện “nhập khẩu phụ nữ trẻ Việt Nam” [1].

Một cụm từ nghe như kim loại va vào răng. Lạnh. Khô. Vô cảm.
“Nhập khẩu.”
Người ta nhập khẩu lúa mì. Nhập khẩu dầu thô. Nhập khẩu linh kiện điện tử.
Không ai nhập khẩu một con người.
Khi đặt chữ “cô dâu” sau chữ “nhập khẩu”, ngôn ngữ đã trượt một bước dài.
Một bước từ nhân vị sang hàng hóa.
Từ tự do sang chức năng.
Từ một người phụ nữ có lịch sử, kí ức, lựa chọn, sang một “giải pháp nhân khẩu học.”
Mệnh đề “nhập khẩu cô dâu” hay “nhập khẩu phụ nữ Việt Nam” đó phản ảnh một cách nhìn. Rằng phụ nữ có thể được vận chuyển. Phân phối. Sắp xếp.
Rằng họ có thể “nhập” về để lấp vào chỗ trống dân số ở nông thôn Nam Hàn, để sanh con, để nâng cao con số về tỉ lệ sanh sản. Như người ta nhập phân bón cứu mùa màng.
Xúc phạm? Ừ. Không chỉ xúc phạm phụ nữ Việt Nam. Mà xúc phạm chính ý niệm con người.
Nhưng rồi ta quay lại, nhìn vào ngôn ngữ của chính mình:
“Xuất khẩu lao động.”
Báo chí và quan chức Việt Nam nói cụm từ đó trơn tru. Mỗi ngày. Văn bản nhà nước viết không chút ngần ngại.
Thậm chí trong tiếng Anh, người ta viết “Labor Export.” Gọn. Rõ. Sạch sẽ như một mục trong bảng cân đối thương mại.
Xuất khẩu.
Cũng là động từ của hàng hóa.
Chúng ta hiểu rằng cái được “xuất khẩu” (đúng ra là “xuất cảng”) là sức lao động, không phải con người.
Nhưng ngôn ngữ không vô tội.
Khi quen miệng nói “xuất khẩu lao động”, chúng ta cũng đang làm một thao tác tương tự: rút gọn con người thành chức năng của họ.
Thành cặp tay. Thành số giờ. Thành kiều hối.
Người được xuất cảng đi không còn là một cá nhân đầy đủ. Họ trở thành “nguồn lực.” Một dòng ngoại tệ. Một chiến lược giảm nghèo.
Và ngạc nhiên thay, chúng ta không giận dữ.
Có lẽ vì trong trường hợp này, Việt Nam là bên bán. Việt Nam chủ động. Việt Nam thu lợi. Việt Nam tự an ủi rằng đó là cơ hội, là hội nhập, là phát triển.
Còn “nhập khẩu phụ nữ Việt Nam” thì Việt Nam ở vị trí bị gọi tên, bị định nghĩa, bị hạ thấp.
Sự phẫn nộ vì vậy vừa chánh đáng, vừa không hoàn toàn vô tư.
Hiện nay, có hơn 340,000 người Việt sanh sống ở Nam Hàn. Khoảng 40,000 phụ nữ Việt đã kết hôn với đàn ông Nam Hàn, chiếm hơn 1/3 số cô dâu nước ngoài ở đó. Những con số khô. Nhưng phía sau mỗi con số là một gia đình, một cuộc đời, một cuộc thương lượng giữa hi vọng và rủi ro.

“Cô dâu Việt Nam đã sẵn sàng – chỉ cần bạn quyết định là được.”
Ngôn ngữ của cái bích chương này cũng đáng bàn lắm. “Cô dâu đã được chuẩn bị sẵn.” Ai chuẩn bị? Chuẩn bị cái gì? Chuẩn bị cho ai? Cách viết giống như nói “sản phẩm đã chuẩn bị sẵn”, “dịch vụ sẵn sàng cung cấp”. Từ “cô dâu” thành “đơn vị đã chuẩn bị”. Nhục.
Sáu mươi năm trước, người Nam Hàn sang Việt Nam làm mướn trong chiến tranh. Hôm nay, người Việt xếp hàng sang đó làm mướn trong hòa bình.
Lịch sử quay nửa vòng. Một vòng quay đủ dài để khiến bất cứ người Việt Nam có suy nghĩ phải bối rối. Thậm chí nhục.
Một số trong chúng ta, đặc biệt là người từ miền Nam lớn lên trước 1975, có thể cảm thấy nhục. Nhục vì nay mình còn nghèo. Nhục vì sự chênh lệch cán cân quá lớn. Nhục vì thấy mình ở phía yếu hơn trong cuộc trao đổi toàn cầu.
Nhưng nếu chỉ dừng ở cảm giác nhục, chúng ta sẽ bỏ lỡ điều quan trọng hơn.
Vấn đề không chỉ là ai nhập, ai xuất.
Vấn đề là chúng ta dùng ngôn ngữ nào để nói về con người.
Nói “nhập khẩu cô dâu” là gián tiếp biến phụ nữ thành món hàng.
Nói “xuất khẩu lao động” là gián tiếp biến công dân thành lô hàng.
Cả hai đều là sự giản lược. Và, mọi sự giản lược con người cuối cùng đều dẫn đến một thứ bạo lực tinh vi.
Có lẽ điều chúng ta cần không chỉ là phẫn nộ với lời nói của người khác. Mà là một sự tỉnh táo với lời nói của chính mình.
Ngôn ngữ định hình cách chúng ta nhìn thế giới. Và cách chúng ta nhìn thế giới định hình cách chúng ta cư xử với nhau.
Nếu còn một chút ý thức về văn hóa, nên gọi đúng tên sự việc: “hôn nhân quốc tế”. Hoặc nếu bàn ở cấp độ quản lí thì là “Chánh sách hôn nhân quốc tế.”
Và nếu còn giữ được lòng tự trọng, chúng ta cũng hãy thôi nói “xuất khẩu lao động.” Không ai xuất khẩu con người. Điều được cung ứng là dịch vụ lao động. Vì vậy, hãy gọi đúng sự việc: “Xuất cảng dịch vụ lao động” (Export of Labor Services).
“Xuất cảng”, không phải “Xuất khẩu”.
Nếu chúng ta muốn được tôn trọng như những con người trọn vẹn, có lẽ ta phải bắt đầu bằng việc nói về nhau như những con người trọn vẹn.
_____
[1] Ông Kim Hee-soo, Thị trưởng quận Jindo bên Nam Hàn, nói rằng: “young Vietnamese women should be imported to marry rural bachelors” (“Nên nhập cảng phụ nữ Việt Nam trẻ để kết hôn với những đàn ông độc thân ở nông thôn”).
Link: https://www.chosun.com/…/02/05/UYFID7W4TRD25NKOKTU24PQZO4
Tuy nhiên, ông Kim đã chánh thức xin lỗi về cách nói trên. Ông nói: “Tôi không hề có ý xúc phạm bất kì quốc gia hay cá nhân cụ thể nào; tôi chỉ đơn giản là đã dùng từ không khéo.”
[2] Hiện nay, số người Việt định cư ở Nam Hàn đã hơn con số 340,000 người. Con số này còn cao hơn số người Việt ở Úc. Nam Hàn cho biết tính đến năm 2026, có chừng 40,000 phụ nữ Việt đã kết hôn đàn ông Nam Hàn, chiếm hơn 1/3 các cô dâu nước ngoài ở Nam Hàn.