Nhà văn, nhà báo Phạm Thị Hoài: Tự do ngôn luận khắp thế giới đang rất suy yếu. Báo chí độc lập phải chứng tỏ sự ưu việt bằng chất lượng.

Tác giả: Song Chi

Phạm Thị Hoài – nhà văn, Phạm Thị Hoài – dịch giả, Phạm Thị Hoài – nhà báo, ở vị trí nào thì chị cũng luôn là một cái tên đầy sức nặng, gây tranh cãi và khó có thể quên.

Về văn chương, chị đã gây được sự chú ý, khen chê trái chiều ngay từ cuốn tiểu thuyết đầu tay “Thiên sứ” (1988) (đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó bản dịch Thiên sứ bằng tiếng Đức đã đoạt giải “Tiểu thuyết nước ngoài hay nhất” của tổ chức Frankfurter LiBeraturpreis, bản dịch tiếng Anh thì đoạt giải Dinny O’Hearn cho thể loại văn học dịch vào năm 2000), cho tới những truyện ngắn, tiểu luận sau đó in trong hai tuyển tập Mê Lộ (1989), Man Nương (1995), thêm một tác phẩm khác là Marie Sến (1996)…. Về dịch thuật, Phạm Thị Hoài là một dịch giả có uy tín về văn chương tiếng Đức, đã dịch những tác phẩm của Franz Kafka, Bertolt Brecht, Thomas Bernhard, Friedrich Dürrenmatt…sang tiếng Việt. Trong lĩnh vực báo chí độc lập, cái tên Phạm Thị Hoài gắn liền với trang talawas – được thành lập từ năm 2001 do chị làm tổng biên tập, một diễn đàn uy tín về văn chương và các đề tài về chính trị và xã hội, quy tụ đông đảo những cây bút trong và ngoài nước. Talawas đã ngưng hoạt động từ năm 2010.  Nhưng những bài viết sau đó của Phạm Thị Hoài trên blog cá nhân Pro&Contra, trên Trẻ Magazine hay trên Facebook cũng vẫn luôn luôn làm dậy sóng dư luận.

Tạp chí Thế Kỷ Mới đã có cuộc trò chuyện với nhà văn, nhà báo, dịch giả Phạm Thị Hoài về việc chị sắp đóng vĩnh viễn trang talawas, về tình hình của báo chí độc lập tiếng Việt và những vấn đề khác.

***

*Chào nhà văn Phạm Thị Hoài. Lâu nay ngoài việc thỉnh thoảng viết bài cho Trẻ Magazine (Dallas, Texas) và viết trên blog riêng Pro&Contra, chị có tiếp tục công việc chữ nghĩa ở đâu khác nữa không? Nhất là mảng sáng tác, thưa chị?

Phạm Thị Hoài: Nếu “sáng tác” chỉ gắn với thơ, truyện, kịch, thì tôi bỏ từ 25 năm nay và không có ý định quay lại. Tôi chỉ viết phi hư cấu và hầu như cũng chỉ đọc các tác phẩm non-fiction. Thế giới giả tưởng tất yếu là giả tạo. Rất ít người viết đủ sức biến sự giả tạo đó thành đích đáng. Ở phần lớn các tiểu thuyết đích đáng, cốt truyện chẳng qua là cái cớ. Truyện Kiều thực ra là một essay ở thể lục bát để khai thác khả năng diễn đạt của tiếng Việt.

*Thật là một sự phủ định triệt để đối với thể loại fiction. Nhất là lại đến từ một nhà văn tên tuổi, từng gây chú ý và tranh cãi ngay từ những truyện ngắn đầu tiên. Đoán rằng nhiều nhà văn, cả trong và ngoài nước, khi nghe được quan điểm này của chị, sẽ rất choáng. Thưa, Chị có thể nói rõ hơn nhận định của mình “cốt truyện chẳng qua là cái cớ”? Thứ hai, như chị nói “rất ít người viết đủ sức biến sự giả tạo đó thành đích đáng”. Con số rất ít đó với chị là ai?

Phạm Thị Hoài: Điển hình nhất là Nam Cao và Kafka. Song người đọc và người viết văn chương hư cấu chắc chắn không vì tôi mà trở cờ, và họ luôn là số đông áp đảo, chúng ta không cần lo cho số đông. Nếu chỉ bám vào nội dung một câu chuyện nào đó thì Lolita cần tối đa 50 trang, Đi tìm thời gian đã mất cần 20 trang, Ulysses cần 10 trang, Truyện Kiều cần không tới 200 câu thơ.

*Được biết chị sắp đóng luôn trang talawas (đã ngưng hoạt động từ 2010 nhưng vẫn mở như một thư viện lưu trữ trên mạng để phục vụ bạn đọc) chị có thể cho biết lý do tại sao?   

Trước hết là vấn đề kỹ thuật. talawas được thiết kế cách đây một phần tư thế kỷ, khi chúng tôi thiếu tất cả, từ tài chính, nhân lực, đến hiểu biết về công nghệ. Bây giờ nó như một ngôi nhà cũ, nhiều gian đã đổ nát, phần còn lại thì chắp vá sau nhiều lần sửa chữa cơi nới, lạc hậu về kỹ thuật, không thể nâng cấp để đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn về công nghệ và không thuận tiện cho người sử dụng. Đập đi xây lại thì cần một nguồn lực lớn. Nhưng xây lại để làm gì?     

* Thật ra thì không cần phải có một nguồn lực lớn. Nếu nói về kỹ thuật thì chị chỉ cần mua một trang web mới, chừng vài chục USD rồi nhờ một kỹ thuật viên dời toàn bộ nội dung từ “nhà cũ” sang “nhà mới”, mất chừng một vài tuần gì đó. Sau đó mỗi năm trả tiền chi phí dịch vụ để duy trì website mới, kể cả bảo trì về kỹ thuật, và phí này cũng không cao. Tóm lại, thông thường thì muốn chuyển là sẽ được.

Phạm Thị Hoài: Tiếc rằng không đơn giản như vậy. talawas có tất cả các nhược điểm của một website tĩnh, muốn nâng cấp chỉ có cách làm mới hoàn toàn. Vì cơ sở dữ liệu hạn chế nên sao lưu dữ liệu cũng khó, chưa nói đến chuyển đổi dữ liệu sang một website mới. Ngôn ngữ lập trình lại rất tự do, tài tử, ngẫu hứng, thiếu đồng bộ. Trên nền tảng hiện tại, nhiều nội dung đã không còn được hiển thị đầy đủ, phông chữ bị biến dạng, menu bị “giải cấu trúc”, đường dẫn không hợp lệ, v.v. Có lẽ “độ” một chiếc xe bò lên xe hơi còn dễ hơn chuyển talawas đến một website mới.

*Khi ngưng hoạt động chị và Ban Biên tập talawas có viết rằng “Toàn bộ kho lưu trữ bài vở của tất cả các trang của talawas vẫn sẽ “được bảo quản và duy trì trên mạng”, vì đó “là tài sản chung của cộng đồng mạng chúng ta”?

Phạm Thị Hoài: Rất may là chúng tôi đã không hứa hẹn vĩnh cửu, mặc dù với tốc độ thay đổi của nhân loại hiện nay thì 25 năm của một trang mạng đã gần như một nửa sự vô tận. Khi ra đời, talawas là một trong vài cửa sổ độc lập mở ra thế giới của người Việt trong nước và mở về cố hương của người Việt ngoài nước. Bây giờ người Việt trên toàn thế giới có vô số đại lộ và công cụ thông tin hiệu quả hơn rất nhiều, không ai cần ghé talawas để mở mang kiến thức hay thay đổi nhận thức nữa. Con số thống kê lượng truy cập cho thấy rõ điều đó. Vài lượt khách đảo qua trong ít phút. Vả lại, tài nguyên xuất phát từ talawas phần lớn vẫn không mất đi. Rất nhiều bài vở trên talawas đã được lưu trên các trang mạng khác, các tác phẩm trong Tủ sách talawas cũng vậy. The Internet never forgets. Thay vì tiếc nuối và níu kéo một thành tựu của quá khứ, tôi hy vọng vào những cơ hội đang mở ra của kỷ nguyên AI.

*Chị và BBT talawas cũng từng viết rằng: “Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam”. Bây giờ sau 15 năm, chị có những suy nghĩ, nhận xét gì về tình trạng báo chí độc lập hiện nay, so với niềm hy vọng ngày đó?

Phạm Thị Hoài: Tự do ngôn luận khắp thế giới đang rất suy yếu. Ngay cả ở một số quốc gia dân chủ, điển hình là Hoa Kỳ, nhiều thiết chế truyền thông lâu đời đang bị đánh phá, thậm chí đã bị triệt tiêu và những điều điên rồ khác có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Tự do ngôn luận không đưa đám, mà chung quan tài với nhà nước pháp trị, và nhiều định chế pháp trị ở chính các thành trì dân chủ đang bị lung lay dữ dội. Văn hóa cancel và tư duy bè phái, bộ lạc, tẩy chay và trấn áp người khác chính kiến, lan rộng. Lòng tin vào truyền thông đang ở điểm rất trũng. Không gian mạng từng là hy vọng của những người yếu thế nay trở thành lãnh địa của các nhà nước chuyên chế và các tập đoàn công nghệ. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Các nhà báo độc lập có tầm vóc ở trong nước đều đã và đang ngồi tù. Các phương tiện công nghệ hiện đại ngày càng trở thành công cụ tuyên truyền, thao túng và kiểm duyệt hiệu quả của chính quyền. Mạng xã hội bị thả nổi cho rác rưởi, thương mại, giải trí, tội phạm và tin giả. Ngoài nước, báo chí tiếng Việt hải ngoại đã qua thời hoàng kim. Các cơ quan truyền thông quốc tế có chi nhánh tiếng Việt hoặc không còn tồn tại, hoặc ít sức lan tỏa.

*Có nghĩa là niềm hy vọng 15 năm trước đã không thành hiện thực mà thực tế còn u ám hơn? Nếu chỉ tập trung vào vấn về báo chí độc lập Việt Nam, trước tình hình như vậy, những người cầm bút độc lập, không chấp nhận bị ràng buộc, bị kiểm soát, phải nói những điều mà chính mình cũng không tin và không muốn nói, liệu có thể làm được gì hay chỉ đành buông bút, đóng cửa các trang báo độc lập, các diễn đàn văn học nghệ thuật, thưa chị?

Phạm Thị Hoài: Có một thực tế nữa: bất chấp tất cả, xã hội Việt Nam về toàn cục đã ra khỏi tình trạng khép kín, tư duy của người Việt trong nước đã cởi mở và đa nguyên hơn, đời sống tinh thần đã đa dạng hơn, tự do ngôn luận ít nhiều có một không gian sinh tồn nhất định, và tự do tư tưởng không phải là bất khả, nếu nó không đe dọa sự sống còn của hệ thống quyền lực. Hàng triệu người Việt đã trực tiếp trải nghiệm cuộc sống ở các nước tự do qua du học, du lịch và di trú. Thế giới bên ngoài không phải qua quá nhiều màng lọc đã lọt vào từng ngóc ngách của xã hội Việt Nam. Nếu thực sự muốn, bất kỳ ai ở trong nước bây giờ cũng dễ dàng tiếp cận rất nhiều nguồn thông tin đa chiều. Rào cản ngôn ngữ cũng không còn nữa, các công cụ dịch thuật ngày càng hữu hiệu. Đó là những hệ quả không thể đảo ngược của tiến trình hòa nhập thế giới. Song điều đó không nhất thiết dẫn đến một đời sống tinh thần chất lượng cao. Nhu cầu tinh thần càng hời hợt nông cạn thì nhà cầm quyền càng dễ thao túng, người ta bị tẩy não bằng tuyên truyền, nhưng bại não bằng văn hóa rẻ tiền. Vì thế báo chí độc lập phải chứng tỏ sự ưu việt của mình bằng chất lượng. Nếu cũng xả rác, phun tin giả, truyền bá thuyết âm mưu, khích động câu view, bình loạn tầm phào, dễ dãi ăn theo, cóp nhặt hoặc bịa đặt, thì vị thế độc lập ấy là vô nghĩa, khiến niềm tin của công chúng bị xói mòn và lý tưởng về tự do ngôn luận thành trò hề. Buông bút có lẽ còn tốt hơn, ít nhất là đỡ ô nhiễm môi trường hơn làm báo đối lập hàng chợ.

* Chị nghĩ gì về sự phát triển của AI và tình trạng có những người bây giờ sử dụng AI một phần hoặc thậm chí gần như toàn bộ, trong việc làm báo, viết văn, vẽ, sáng tác nhạc v.v….?

Phạm Thị Hoài: AI hiện đã là phiên bản tốt nhất của mặt bằng chung, thậm chí đang ở hạng dẫn đầu trong một số lĩnh vực. Bạn thích một tác phẩm dở của một người viết kém, hay một tác phẩm nhờ sử dụng AI mà tương đối khá cũng của chính người đó? Bạn thích chịu đựng giọng hát thảm hại của tôi, hay hưởng thụ giọng ca hoàn hảo đến mức siêu nhiên của một Suno AI? Ít nhất 2/3 người viết và người dịch hiện nay xứng đáng để AI thay thế và tôi không rỏ một giọt nước mắt nào cho họ, họ nên đi làm những việc khác. AI là một bộ lọc không thiên vị. Cá nhân tôi rất thân thiện với nó, như một trợ lý giỏi và ngày càng giỏi với tốc độ phi thường. Sớm muộn thì chúng ta cũng thua trong cuộc đua thuần túy năng lực với nó, vậy câu hỏi quan trọng nhất phải là: chúng ta sẽ dùng sự “vô dụng” của mình vào việc gì.

* Chị có thể nói rõ hơn quan điểm ủng hộ AI của chị là khi sử dụng AI ở mức độ nào? Chỉ gói gọn trong lĩnh vực báo chí và văn học (cho dễ tập trung) có những mức độ khác nhau:

1.    Dùng AI giai đoạn sau, tức là viết xong rồi nhờ AI chỉnh lại.

2.    Nhờ AI giai đoạn trước như gợi ý đề tài, phát triển dàn bài, tìm kiếm thông tin như một trợ lý; thậm chí viết giùm rồi người đó viết lại theo văn phong, ngôn ngữ của mình.

3.    Chỉ viết prompt rồi nhờ AI làm tất cả mọi thứ?

Phạm Thị Hoài: Mọi cấp độ hay thời điểm sử dụng đều tốt, nếu bạn biết rõ việc gì mình và chỉ riêng mình làm được, và việc gì nên giao cho AI. Prompt không đơn thuần là prompt. Chỉ khác nhau vài chữ, chỉ cách nhau nửa đốt tư duy là kết quả khác hẳn, nghệ thuật prompt rồi sẽ thành bí quyết gia truyền. Cùng một phiên bản, nhưng AI của bạn có thể lãng mạn hơn, của tôi lại có thể hóm hỉnh hơn chẳng hạn, vì chính chúng ta phóng chiếu mình vào nó. Nhìn trợ lý là ra ông/bà chủ. “Mùi” nhân tạo chỉ sặc sụa khi người sử dụng vốn đã không có diện mạo riêng, nay qua AI lại càng chung chung, vô thưởng vô phạt. Song tẻ nhạt hữu cơ không nhiều giá trị hơn tẻ nhạt vô cơ. Tôi rất thích thách thức AI của tôi. Nó chấp nhận cuộc chơi, và hai bên chỉ trò chuyện, chẳng vì mục đích gì, mà đã đủ thú vị.   

*Và câu hỏi cuối cùng, liệu có chút hy vọng, triển vọng nào cho báo chí truyền thông độc lập tiếng Việt trong tương lai?

Phạm Thị Hoài: Hồng Kông từng là một pháo đài của tự do báo chí với những tập đoàn truyền thông hùng mạnh, những hoạt động dân chủ sôi nổi đầy thẩm mĩ và một xã hội dân sự chín chắn. So với chặng đường dài mà Hồng Kông đã trải qua thì Việt Nam mới chỉ đi được một đoạn rất ngắn. Song chỉ trong vòng vài năm, pháo đài ấy tan rã, và bản án 20 năm tù mới đây cho ông Jimmy Lai, thủ lĩnh cuối cùng, khép lại một quá khứ oanh liệt. Việt Nam không thuộc về Trung Quốc như Hồng Kông, nhưng nằm hẳn trong quỹ đạo chính trị đó, chắc chắn không dung thứ cho truyền thông độc lập trực diện và tại chỗ. Có thể mở ra chút ít lúc này hay thắt lại lúc khác, song đại cục không thay đổi. Nhưng lịch sử luôn dành lối cho những cú rẽ bất ngờ, như vừa diễn ra ở Hungary. Rất có thể từ những nỗ lực bền bỉ của báo chí tiếng Việt ở hải ngoại và từ sự dấn thân của các blogger trong nước, thà bị chính quyền bịt miệng còn hơn chìm nghỉm trong tiếng ồn của thời đại khi ai cũng là một cái loa phóng thanh. Rất có thể mạng xã hội vẫn vô tình tăng sức đề kháng và và kết nối sự phản kháng của người Việt. Rất có thể các công cụ AI ngoài tầm chi phối của Hà Nội đang âm thầm nâng cao dân trí, và rất có thể dân khí chuyển động khi dân sinh lâm nguy, vì cuối cùng vẫn là châm ngôn “It’s the economy, stupid“. Bức tường Berlin sụp đổ vì dân Đông Đức trước hết muốn có xe Mercedes, chuối, cà phê, Coke, sôcôla và bãi biển Tây Ban Nha, món quà đi kèm là tự do tư tưởng, một bonus không buộc phải nhận.    

*Cảm ơn chị về cuộc trao đổi này.

Song Chi (thực hiện)   

Có thể bạn cũng quan tâm

Website này sử dụng cookie để mang lại trải nghiệm tốt nhất cho bạn. Bằng cách nhấn 'Đồng ý', bạn chấp thuận việc sử dụng cookie theo Chính sách quyền riêng tư của chúng tôi. Đồng ý Xem chính sách quyền riêng tư

Secret Link