Truyện ngắn Ngô Nguyên Dũng: Một chín sáu ba

Tác giả: Ngô Nguyên Dũng
Hình minh họa: AI Generated.

Năm ấy, một chín sáu ba, Cang mười hai tuổi.

*

Mỗi chiều, khoảng năm giờ rưỡi, bất kể mưa nắng, chú đưa báo đều đạp xe ghé ngang, bấm chuông. Chú cụt một chân, chồng nhật trình cột yên sau, cây nạng gỗ giắt nằm một bên, xẹt qua xẹt lại, hết nhà nầy tới nhà kia. Lẹ làng. Gọn bâng. Tài của chú không chỉ nhiêu đó. Chú còn có trí nhớ ngoại hạng. Nhà số mười hai báo Tiền Tuyến. Nhà số chín báo Ngôn Luận.  Nhà ba má Cang, số bảy báo Lẽ Sống.

Thông thường, mỗi khi có ai bấm chuông, bầy chó nhà Cang đều chạy ra, sủa vang rân. Trường hợp chú đưa báo thì khác. Chúng cũng tranh nhau chạy ra, chồm rầm rập lên cửa sắt, nhưng không sủa, mà ngoắt đuôi vẫy mừng.

Thỉnh thoảng, vì lý do sức khỏe hay mỗi lần vợ đẻ hoặc mưa to gió lớn, chú đưa báo tới trễ, nhưng vẫn tới. Những lần đó, không phải chỉ mình Cang, mà ngay cả con Lu, con Ki, con Bi dường như cũng trông đứng trông ngồi. Không biết mấy con chó ngóng chờ chuyện gì, riêng Cang, cậu chờ đọc tiếp truyện dài kiếm hiệp kỳ tình “Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự” của tác giả Nguyễn Chánh Sắt và tiểu thuyết tình cảm “Đôi Mắt Người Xưa” của tác giả Ngọc Linh.

Năm ấy, Cang xong bậc tiểu học, thi rớt hai lần đệ thất trường công. Cậu không còn tồng ngồng đứng dội nước bên bồn nước cạnh chuồng gà, mà lặng lẽ cầm khăn lông vô nhà tắm, khép cửa lại.

Có lần anh Danh bắt gặp, anh ngoác miệng cười hề hề, hỏi:

“Mọc lông rồi hả mậy?”

Má ngồi gần đó, rầy rà:

“Nói tầm bậy. Nó tới tuổi trổ mã, biết mắc cỡ đó mà.”

Bữa đó, Cang tắm gội lâu hơn thường lệ. Cậu cảm nhận rõ ràng những thay đổi trên thân thể. Nó trở nên nhạy cảm hơn trước và biết phản ứng theo từng động tác của bàn tay cậu khi thoa xà bông, lúc cọ xát dịu dàng lên da thịt.

Cậu đã từ giã những thú vui trẻ con. Cậu không còn hứng thú chuyện nuôi cá bảy màu, đá dế, tạt hình, thả diều, bắn đạn, … để xoay qua sưu tập tem thư, nghe và chép nhạc tình, bắt chước ca sĩ đài phát thanh, tập tành nghêu ngao những “Những Đồi Hoa Sim”, “Tôi Sẽ Đưa Em Về”, “Ai Ra Xứ Huế”, … Và, Cang đã bắt đầu để ý và thích đọc những bản tin thời sự đăng nhật trình.

Báo Lẽ Sống gồm tám trang khổ lớn. Chủ nhật có thêm hai trang đăng những bài viết có chủ đề màn ảnh, cải lương, kịch trường và thơ văn của độc giả từ khắp nơi gởi về. Cang có sở thích cắt để dành trong hộp thiếc bánh Lu cất trong ngăn kéo riêng những mẩu tin thời sự đáng chú ý đăng trang nhất. Chiều đó, Cang đọc thấy hàng tít lớn cho mẩu tin chạy dài tám cột báo: “Biến cố tại chùa Từ Đàm. Biểu tình tại đài phát thanh Huế.”

“… Số người biểu tình lên tới sáu ngàn. Có binh lính và xe bọc thép giữ gìn trật tự. Khi tình hình trở nên căng thẳng, bất ngờ có ai quăng chất nổ, làm thiệt mạng tám người và nhiều người bị thương. Binh lính nổ súng giải tán biểu tình…”  

Ngày hôm sau, cậu cắt mẩu tin, gấp lại, cất trong hộp thiếc, bỏ vô ngăn kéo chung với mấy viên đạn thủy tinh vân vi sặc sỡ, mớ đồ chơi bằng nhựa, xấp hình con con ràng dây thun, hộp đựng vỏ ốc vỏ sò nhặt nhạnh ngoài biển Vũng Tàu, quyển vở chép bài hát và tập giấy cứng gắn những con tem mua ở tiệm tạp hóa đường Trần văn Thạch.

Năm đệ thất, Cang chọn tiếng Anh làm sinh ngữ chính. Ngoài những giờ học ở trường, cậu còn học thêm Anh ngữ tại Hội Việt Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi. Lớp một, English For Today, quyển một bìa vàng. Thầy giáo tên Phong, du học sinh ở Mỹ về. Vóc dáng thầy cao ráo, trắng trẻo, tóc cắt ngắn, đi dạy mặc áo sơ-mi dài tay bỏ trong quần thắt dây nịt, chân mang vớ, xỏ xăng-đan.

Chiều nọ, sau giờ học, chỉ còn mỗi mình Cang loay hoay sắp xếp tập vở, sửa soạn ra về thì thầy Phong cất tiếng hỏi, giọng lơ lớ như người nước ngoài nói tiếng Việt:

“Cang có muốn tới nhà thầy học thêm tiếng Anh không?”

Cang ngẩng đầu, bối rối:

“Dạ, dạ… để em về nhà hỏi lại ba má, thưa thầy.”

“Em về xin phép ba má, nói thầy dạy thêm, không phải trả học phí”, thầy nhoẻn cười, hàm răng trắng tinh.

“Dạ, tuần tới em sẽ… sẽ… cho thầy biết.”

*

Nhà thầy Phong nằm trong một con hẻm đường Yên Đỗ, xế trưa thấy nhiều xe bán thức ăn chơi và một nhóm chợ chiều. Ngôi nhà nhỏ, trông rất khang trang, tường vôi trắng, mái ngói đỏ, gắn máng xối, dẫn nước mưa xuống lu sành kê bên hông nhà. Một hàng ba lót gạch bông và một khoảnh sân hẹp sau cánh cửa sắt, tường cao khỏi đầu người gắn miểng chai lởm chởm. Cửa gắn chuông điện, tiếng trong veo như phát ra từ máy phát thanh. Trước bữa học đầu tiên, thầy Phong dẫn Cang đi một vòng coi nhà. Thầy sống cùng người mẹ già. Cha thầy đã qua đời từ nhiều năm trước. Nhà ba phòng, phía sau là một gian bếp nhỏ, cửa sổ chấn song sắt, cánh lá sách, hướng ra con sông đục lờ, ngưng đọng biếng nhác. Một chậu bông mồng gà vàng chưng trên bệ cửa. Nhà vệ sinh và nhà tắm nằm ở sân sau. Mái hiên cạnh gian bếp, rộng vừa đủ kê một chiếc bàn con chữ nhật và hai chiếc ghế xếp. Hai cột gỗ giăng sợi dây kẽm phơi quần áo. Ở nhà, thầy Phong mặc quần ngủ dài, áo thun ba lỗ, mảng lông phơn phớt phần ngực hở, cổ đeo sợi dây chuyền da móc tượng Phật con bằng đá. Thầy nói, ngọc hổ phách.

“Ngọc hổ phách là nhựa cây hóa ngọc sau hằng trăm, hằng ngàn năm nén sâu dưới lòng đất”, thầy giải thích.

“Dạ, thầy mua tượng Phật ở đâu đẹp quá?”, Cang lí nhí.

“Thầy thỉnh tượng trong một ngôi chùa nhỏ ở Đà Lạt”, thầy trả lời và đổi sang Anh ngữ.

“And now let’s begin with the first lesson!”

Cang khẽ gật đầu. Tâm tư cậu vẫn còn giao động trong không gian lạ, vắng lặng khác thường. Một nơi chốn bứt lìa mọi sinh hoạt xã hội bên ngoài. Tường vôi màu vỏ trứng. Hai khung cửa rộng chấn song sắt, treo màn voan trắng vén lại hai bên. Một tủ kính trưng bày chén bát và ly thủy tinh, một chồng dĩa hát bốn mưới lăm vòng. Một bàn con, bên trên là chiếc máy quay dĩa. Vài khung ảnh đồi cát đen trắng treo tường. Chiếc đồng hổ quả lắc treo tường, gõ chuông réo rắt mỗi mười lăm phút. Một trang thờ Phật, bên dưới là kệ thờ treo ảnh chân dung người đàn ông, hẳn là cha thầy Phong. Và mùi hương nơi đây. Một thứ tạp hương khó định nghĩa. Của tường vách ám hơi người. Của nhang đèn. Của mùa màng. Của bếp núc. Tất cả hòa cùng mùi già nua, mục rữa tàn tạ của người và vật.

Thầy Phong vô bếp, lát sau bưng ra cho Cang và thầy, mỗi người một ly nước xá xị mát lạnh. Thầy mở sách, ngón tay lần theo từng dòng trên trang chữ. Thầy đọc trước, Cang đọc theo. Những từ vựng mới, khó phát âm, thầy bắt Cang lặp đi lặp lại nhiều lần. Tập đọc xong, thầy gấp sách lại, bắt đầu phần đàm thoại. Đôi khi, thầy còn thân mật cầm tay Cang chừng như giục giã…

Chiều nọ, trên trang nhất nhật báo Lẽ Sống, Cang đọc được bản tin: “Cảnh sát bao vây, khám xét chùa Xá Lợi giữa khuya, bắt giữ nhiều sư sãi.”

Có lần, sau giờ học, thầy Phong đưa cho Cang tờ giấy chép tay lời bài hát bằng tiếng Anh, rồi bước tới mở tủ, lấy ra một dĩa hát, lắp vô máy.

“All my bags are packed.
Ready to go.
I’m standing here outside your door.
I hate to wake you up and say goodbye

So kiss me and smile for me.
Tell me that you’ll wait for me…” [1]

Trên đường về nhà, Cang vừa đi vừa nghĩ ngợi mông lung về ca khúc mới nghe lúc nãy và những gì xảy ra sau giờ học. Thầy Phong nói, nét mặt đăm chiêu, sáng nay mẹ thầy khăn áo chỉnh tề tới chùa Xá Lợi nghe thuyết pháp về tình hình đạo pháp trong hoàn cảnh hỗn mang hiện thời, tới giờ nầy vẫn chưa về. Cang không biết làm cách nào an ủi thầy, chỉ nhẹ nhàng giơ tay úp lên lưng tay thầy đặt trên bàn. Thầy lật bàn tay, năm ngón khép lại, xoay mặt ngó Cang. Một đường thảng thốt sướt dài sống lưng cậu. Lòng tay thầy Phong rịn ấm mồ hôi… Chỉ vậy thôi mà Cang cảm thấy xốn xang nỗi gì rất lạ, như rễ một chồi cây căng đầy nhựa sống vừa sững sờ chuồi ra phần thịt da thầm kín tuổi dậy thì.

Cang nhẹ nhàng rút tay về. Chuông đồng hồ cũng vừa gõ tiếng bốn giờ chiều.

“Em về, thưa thầy.”

Vừa tới ngã ba Yên Đỗ, Hai Bà Trưng và Trần Quang Khải, chợt Cang thấy từ hướng cầu Kiệu một đám đông lao xao. Xe cộ lưu thông giạt vô lề đường. Tiếng người càng lúc càng vang dội. Hoan hô. Đả đảo. Bừng bừng khí thế. Đa số là thanh niên trai trẻ, chừng vài trăm người, tay cầm gậy gộc huơ cao, dương oai diễu võ. Từ Hai Bà Trưng họ rẽ qua Trần Quang Khải, về hướng Đa Kao. Đám đông hiếu kỳ tụ tập hai bên đường, ngơ ngác nhìn theo. Lại một đường lạnh buốt kéo dọc sống lưng Cang. Lần nầy không phải cảm xúc rạo rực mới nãy, mà là nỗi sợ hãi trước cảnh tượng bạo lực diễn ra trước mắt.

Trong đám đông, một người cất tiếng e dè:

“Chuyện gì vậy?”

“Dân Hố Nai, Gia Kiệm kéo về đây, biểu tình ủng hộ ông cụ”, tiếng một người thều thào như sợ lỡ lời.

Chiều hôm đó, Cang nghe tin, đoàn biểu tình tiến về trung tâm, tới đường Lê Lợi, chạm trán đám học sinh trung học kỹ thuật Cao Thắng. Phe theo, phe chống ấu đả kịch liệt, chạng vạng tối mới yên. Bản tin ghi chép biến động nầy trên báo Lẽ Sống cũng được Cang cắt ra, cất vô hộp thiếc.

Khuya, Cang chiêm bao thấy lửa.

*

Sài Gòn, những ngày tháng ấy, biểu tình không ngơi nghỉ. Giữa mùa mưa, tháng sáu, trên trang nhất nhật báo Lẽ Sống in đậm hàng chữ lớn: “Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu phản đối chính phủ”. Tấm ảnh kèm theo chụp cảnh nhà sư trong tư thế thiền tọa, lửa bén ngọn hừng hực. Nghe nói, lửa thiêu hủy thịt xương thầy, còn lại trái tim chỉ bị lửa đốt cháy đen, gần như nguyên vẹn, được thỉnh về chùa Xá Lợi.

Cuối mùa mưa, Cang kết thúc lớp một tại Hội Việt Mỹ. Giáo viên lớp hai là một người khác. Vẫn English For Today, quyển 1 bìa vàng. Cậu bắt đầu ngưng chép và hát nhạc Việt Nam, đổi sang chép và nghe nhạc tiếng Anh, tiếng Pháp. Vẫn mỗi tuần một lần, cậu thả bộ tới nhà thầy Phong học thêm tiếng Anh. Cang đã biết cong lưỡi phát âm những từ smile, style, … hoặc park, car, hard, … theo cách uốn nắn của thầy, và quan trọng nhất, thầy dặn dò, đừng quên âm gió những chữ sau cùng của một từ.

Thầy vẫn thường xuyên mở nhạc tiếng Anh cho Cang nghe để giải trí và học những ngữ vựng cũng như cách hành văn mới.

“I see trees of green
Red roses too
I see them bloom
For me and you
And I think to myself
What a wonderful world…” [2]

Thỉnh thoảng, trước khi Cang chào ra về, thầy Phong còn dúi vô tay Cang mấy đồng cắc.

“Cho em vui vậy thôi”, thầy nói, “chớ không phải để thưởng công cho những lần em nhổ tóc sâu, tóc bạc hay thoa dầu cạo gió cho thầy.”

Trên đường về, Cang ghé mua nước đá nhận xịt si-rô, trái cóc ngâm nước cam thảo hay vài cuốn bò bía phết tương đen tương đỏ, vừa rảo chân vừa nhâm nhi. Mỗi ngày cậu vẫn theo dõi những tiểu thuyết từng kỳ và chăm chỉ cắt những bản tin thời sự để dành. Thỉnh thoảng Cang lại tự hỏi, mình làm như vậy với mục đích gì? Nhưng cậu không nghĩ ra nguyên do nào xác đáng. Cậu hồ nghi, cậu chỉ là người một mực gắn bó với những chuyện xảy ra tại thành phố sinh quán, do chính mắt cậu thấy, chính tai cậu nghe, … Nghe và thấy, để rồi tâm tư cậu mọc lên những bất an không tên gọi.

Những ngày sau đó có thêm tin tức về vài vụ tự thiêu khác nữa, và chuyện nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bị bắt, sau đó tự sát trong nhà giam. Cũng như trường hợp nữ sinh Quách thị Trang bị cảnh sát bắn chết trong lần tham gia biểu tình tại công trường Diên Hồng, trước chợ Bến Thành. Những bản tin có vài đoạn bỏ trống vì kiểm duyệt.

Những chuyện nầy, Cang và thầy Phong chưa bao giờ đề cập tới. Bất chợt đôi khi, Cang buộc miệng vu vơ:

“Sao thầy không lấy vợ cho đỡ buồn?”

Thầy Phong lặng thinh giây lát, rồi đáp:

“Thầy chưa gặp người hợp ý, em à!”

Cang làm thinh, không biết nói gì thêm.

“Có lẽ thầy ở vậy… Thầy còn mẹ già phải chăm sóc. Thầy sợ, lỡ như lấy ai về, mẹ chồng con dâu không hợp tính nhau, khó xử cho thầy.”

Rồi thầy bắt qua chuyện khác. Thầy kể cho Cang nghe về đời sống, thói tục ẩm thực trong những dịp lễ Giáng Sinh, lễ Tạ Ơn, lễ hội truyền thống riêng biệt của mỗi tiểu bang và những thắng cảnh du lịch nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Những địa danh New York, San Fancisco, Boston, cầu Golden Gate, vực đá Grand Canyon, … bắt đầu tượng hình trong tâm tưởng Cang. Như những hạt mầm ẩn náu từ lâu trong tiềm thức cậu, giờ đây được thầy Phong tưới tẩm, bón quén, vừa hoan lạc cựa mình, chuồi ra đất. Ý thức Cang, từ dạo đó, mở ra một cánh cửa. Ánh sáng lạc quan, phóng đãng của một cảnh giới khác ngập tràn. Không phải khung cảnh phố phường ngột ngạt, âm ỉ biến động. Không phải những ngõ ngách chằng chịt hàng điện câu, ngập ngụa mùi rác rưởi, xú uế. Không phải chứng kiến những cảnh tượng khoa trương bạo lực diễn ra gần như mỗi ngày. Không phải nhìn thấy những mặt người lạnh câm. Không phải nghe những lời nói giả nhân giả nghĩa…

Cuối mùa mưa, tháng mười một, sáng thức dậy sửa soạn đi học. Từ máy phát thanh, cha Cang mở nghe mỗi ngày bản tin buổi sáng, chỉ nghe phát đi phát lại bài nhạc hiệu. Tiếng động cơ máy bay trực thăng lần quần trên không, lúc xa lúc gần. Cha thở hắt:

“Có đảo chánh.”

Hôm đó, Cang được nghỉ học. Trời bên ngoài tối sầm. Rồi đổ mưa. Những cơn mưa sáng nơi đây lúc nào cũng gieo vào lòng Cang nỗi ray rứt khó tả. Tiếng má thúc hối đóng cửa sổ, tránh mưa tạt.

Bản tin nhật trình buổi chiều chạy hàng tít lớn: “Đảo chánh thành công.” Tổng thống và bào đệ ông tẩu thoát. Vài ngày sau, cả hai bị quân đội đảo chánh áp giải bằng xe tăng tại nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn và bị bắn chết dọc đường. Em dâu tổng thống, người đàn bà uy quyền chất ngất, khuynh loát chính trường không ngơi nghỉ những ngày vừa qua, vào thời điểm đó, đang công du Hoa Kỳ, nhằm xoa dịu những căng thẳng ngoại giao.

Nhật báo Lẽ Sống đã nhiều lần truyền tải những lời tuyên bố của bà cùng báo giới Hoa Kỳ:

I may shock some by saying ‘I would beat such provocateurs ten times more if they wore monks robes,’ and ‘I would clap hands at seeing another monk barbecue show, for one can not be responsible for the madness of others’. [3]


*

Mãi về sau, tại một nơi không phải quê hương, Cang nhớ lại và hiểu ra… Phải rồi, anh đã muốn mình là một nhân chứng trước những biến động thời cuộc. Một nhân chứng đứng bên lề, chỉ thấy và nghe, không phê phán. Những cảm xúc chủ quan, Cang giấu kín trong đáy tâm tư riêng mình.

Nhiều thập niên sau chính biến một chín bảy lăm, từ chốn tha hương, Cang trở về thăm thân bằng quyến thuộc. Cha mẹ anh đã qua đời. Ngôi nhà thời thơ ấu đã đổi chủ. Anh chị em Cang tản mác mọi nơi. Cô em gái anh ở Sài Gòn còn giữ một số tài liệu, hình ảnh lưu niệm của gia đình. Cang hỏi em về chiếc hộp thiếc. Cô nói, em còn giữ cho anh đây, rồi mở tủ lấy đưa cho anh.

Nhịp tim anh đập vội. Anh xòe tay phủi lớp bụi ám trên nắp hộp, mở ra. Vẫn nguyên vẹn đó mớ đạn thủy tinh vân vi sặc sỡ, mấy xấp hình ràng dây thun, những vỏ sò vỏ ốc không nguôi hoài niệm đại dương, và những mẩu tin nhật báo được chàng tẩn mẩn cắt ra, gấp lại, cất giữ một thời.

Cang cúi mặt, đăm đăm ngắm nghía, tâm tư se thắt. Những hàng chữ, những hình ảnh một thời trở về sống động trong tâm trí anh. Gương mặt và giọng nói của thầy Phong. Tiếng người hoan hô, đả đảo, vang dậy rồi nhỏ dần và tắt ngúm, như âm thanh trong động đá. Dường như có tiếng lửa bén ngọn phừng phực, tiếng chân người túa chạy, hoảng loạn tứ tán… Chữ và mặt người sóng sánh nhòa nhạt. Cang khép mắt, đóng nắp hộp thiếc. Cùng lúc, anh đóng lại, bôi sạch, thiêu hủy những nhiễu nhương thời thế đã xảy ra trên quê hương, khởi đầu từ thập niện một chín sáu mươi.

Và anh nhớ lại:

Năm ấy, một chín sáu ba, anh mười hai tuổi.

Ngô Nguyên Dũng

(11.2025)


[1] “Leaving on a Jet Plane” – Peter, Paul and Mary.

[2] “What a Wonderful World” – Louis Armstrong.

[3] Trích đoạn lời tuyên bố của bà Trần Lệ Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu, em dâu tổng thống Ngô Đình Diệm – “Letters to the Times: Mrs. Nhu Defends Stand”, The New York Times, 14 August 1963. Referring to the self-immolation of Buddhist monks protesting government actions.

https://en.wikiquote.org/wiki/Madame_Nhu

Có thể bạn cũng quan tâm