
Một nhóm các quý ông đã từng trải việc đời, từng đi nhiều nơi, nghe thấy nhiều điều, suốt dọc đất nước hầu như không thắng cảnh nào là không biết, không món đặc sản nào là không hay… Thế mà cái máu xê dịch vẫn chưa hề suy giảm. Tuy nhiên đã gọi là du lịch, thì không chỉ hấp dẫn bởi thắng cảnh, khí hậu, món ăn, đặc sản… mà còn phải có chuyện lạ, chuyện bất ngờ… nữa thì mới thú. Ý kiến đó vừa đưa ra, thì có người nói ngay:
– Chẳng phải người ta nghĩ ra cái môn “du lịch tâm linh”, rồi đổ tiền, đổ của xây dựng những tùng lâm, điện các… lộng lẫy, trùng điệp… cốt tạo ra những điều lạ, điều bất ngờ… để thu hút du khách hay sao?
– Dào ôi – một ý kiến khác – lộng lẫy, trùng điệp thật đấy. Nhưng chỉ đến một lần, thì hết lạ, hết bất ngờ ngay. Chưa kể đến màu sắc lòe loẹt, kiến trúc khoa trương, bắt chước một cách kệch cỡm… giữa một vùng quê nghèo. Thế thì cái gọi là “tâm linh” ở chỗ nào nhỉ?
– Tâm linh hay không là ở trong lòng mình. Nếu không linh sao gọi là “tâm”? Cả những chuyện lạ, chuyện bất ngờ… cũng thế, lúc nào nó cũng tồn tại sẵn sàng, ở ngay trong ta, và xung quanh ta… Chỉ vì ta không tin, không để ý, nên không nhận ra đấy mà thôi. Phàm cái gì cũng vậy, phải tin rồi mới thấy…
Người vừa nói giọng có mùi triết lý vừa rồi là một quý ông thuộc thế hệ 5x, tóc bạc trắng như cước, họ Khuất, tên Liêm. Cầm chịch cuộc trò chuyện này cũng là một quý ông 5x, họ Trần, tên Vàng. Nghe ông bạn già nói, Trần Vàng liền nảy ra sáng kiến:
– Vậy chúng mình ngồi đây, mỗi người hãy thử vắt óc, nhớ ra một nơi từng có chuyện tâm linh, hay chuyện lạ, chuyện bất ngờ… gì đó, rồi ta tổ chức chuyến đi. Gần thì tranh thủ hai ngày nghỉ cuối tuần, xa thì nhằm dịp nghỉ lễ… Thế có phải độc đáo không? Cứ gì phải đến những nơi “tâm linh”, hay “sinh thái”… mới gọi là “du lịch”?
Mọi người nghe cầm chịch nói đều có vẻ gật gù. Quý ông tên Liêm đưa ra ý kiến đầu tiên:
– Ngày tôi vào lính, cách đây già bốn chục năm, đóng quân tại một vùng núi thuộc Thanh Hóa, trong một bản người Mường, có tên bản Mèn, phong cảnh hoang sơ song khá đẹp, không biết bây giờ có thay đổi gì không?
– Chính cái hoang sơ mới đẹp – Trần Vàng sốt ruột – Nhưng đẹp cũng chưa hẳn đã lạ…
Khuất Liêm vẫn tiếp tục:
– Mấy sĩ quan mới ra trường chúng tôi đóng ở nhà một ông họ Trương, tên Phan, ở lưng chừng đồi, nhìn xuống một cái hồ xanh ngắt, rộng chừng vài mẫu, tên chữ là hồ Tĩnh Thủy. Hồ nằm giữa bản Mèn, nhưng là hồ của riêng nhà anh Phan, giữa hồ nhô lên một hòn núi, gầm núi có một cái động nhỏ, quanh năm nước ngập tới trần, nên phải lặn xuống mới thấy.
– Hồ rộng vài mẫu cũng chưa lạ, hang động cũng chưa lạ – Trần Vàng lại đế vào – Hy vọng ông chủ cái hồ ấy có thả cá lạ?
– Không thả cá mới lạ – Khuất Liêm kể tiếp – mà hình như ông ấy không muốn nuôi cá, chỉ thích nuôi lợn. Trong chuồng nhà ông nuôi một con lợn nái tuyệt đẹp, còn đặt tên hẳn hoi, gọi là con Cúi Đuôi Cỏ, vì nó có cái đuôi y hệt một thứ cỏ lạ mọc ở quanh hồ, gọi là cỏ đuôi cúi, tiếng Mường cúi nghĩa là lợn, đuôi cúi là đuôi lợn. Không biết cỏ có trước hay con lợn có trước, mà lấy cái nọ đặt tên cho cái kia như thế. Cỏ đuôi lợn chỉ mọc ở duy mỗi cái hồ ấy, quanh vùng không đâu có. Tôi đi khá nhiều nơi, cũng chưa từng thấy ở đâu có giống cỏ này…
– Nghe bắt đầu thấy lạ rồi đấy – có người thốt lên – Quý ông Khuất Liêm kể tiếp:
– Còn chuyện này mới thực là lạ. Giống cỏ ấy xào không cần mỡ, mà béo ngậy, y như ăn đuôi lợn vậy… Bấy giờ lính tráng đói, suốt ngày ăn mì tôm, sau phát hiện ra, đem nấu mì tôm với cỏ ấy thì ngon tuyệt…
Quý ông Trần Vàng thốt lên:
– Mình ngày ấy cũng đi lính nghĩa vụ, đóng ở vùng rừng núi thuộc Vĩnh Phú. Chỉ biết ăn rau tàu bay ngán đến tận cổ, mà chưa nghe nói đến cỏ đuôi lợn bao giờ. Dẫu có trừ đi mấy chục phần trăm bốc phét vào đấy, thì chúng mình vẫn đáng làm một chuyến đi, xem thử mùi vị của cái giống cỏ lạ ấy nó ra làm sao?
Một quý ông người nhỏ nhắn xinh xắn, dáng thư sinh, râu ria lởm chởm, nom như quý tộc họ Đờ bên xứ Phú Lãng Sa. Là họ Nguyễn, tên Phong, nik name Phong Ba, có vợ tên Thủy, là một họa sĩ vẽ phong cảnh rất giỏi, bấy giờ mới lên tiếng hỏi:
– Thắng cảnh là chuyện lạ của Trời, Đất. Nhân tình thế thái là chuyện lạ của con Người. Phải có cái đó nữa thì mới hoàn hảo cả Thiên, Địa, Nhân. Còn gì nữa không?
Khuất Liêm trả lời:
– Còn. Tôi cũng đang định nói tiếp. Ông Phan có người em trai tên Hùng, cứ đòi thả cá giống xuống hồ để nuôi lấy lời thì ông Phan kiên quyết phản đối, đến nỗi anh em lìa nhau. Ông Hùng tức giận mang vợ con sang bản Mơ, ở tít mãi phía Nam quả đồi. Đến nay đã hơn bốn chục năm anh em không nhìn mặt nhau.
Phong Ba gật gù:
– Chỉ vì chuyện thả cá xuống hồ mà mâu thuẫn đến thế sao? Chắc có gì động đến phong thủy thì mới ghê gớm như vậy?
Khuất Liêm nghe Phong Ba nói, như chợt nhớ thêm một việc nữa:
– Hồi ấy, mấy sĩ quan chúng tôi cũng xúm lại, khuyên ông Phan nên chiều theo ý ông em để anh em khỏi bất hòa. Không ngờ ông ấy cứ bình tĩnh như không. Ông ấy bảo số phận nó thế rồi, không tránh được đâu. Kể rằng ngày trước có ông thầy phong thủy đi qua, trỏ xuống hồ mà bảo: “nhà này anh em phải lìa nhau ba đời, rồi mới hàn gắn lại được”.
Phong Ba nghe xong thốt lên:
– Trời, lại còn thế nữa ư? Thế thì chắc có liên quan đến cái hồ ấy. Vậy chúng ta tổ chức chuyến đi thôi. Có đủ cả phong cảnh và việc nhân tình thế thái ở trong đó rồi.
Có thêm ý kiến của Phong Ba nữa thì mọi người đồng tình ngay. Đơn giản đối với các quý ông có máu xê dịch, thì chỉ cần có cớ là được rồi, huống hồ trường hợp này còn có đủ cả Thiên, Địa, Nhân.
Bấy giờ đang là giữa thu. Cả bọn bàn nhau, thống nhất chuyến du lịch sẽ bắt đầu vào mấy ngày nghỉ cuối tuần vào cuối mùa thu. Quý ông Trần Vàng quay sang nhắc Khuất Liêm:
– Ông bảo cái P. cùng đi nhé. Thằng nào cũng phải mang vợ theo đấy.
T. tên là vợ Khuất Liêm. Nghe Trần Vàng nhắc, Khuất Liêm lắc đầu:
– Vợ tôi sẽ không đi đâu.
Trần Vàng thắc mắc:
– Sao không đi?
Khuất Liêm trả lời, giọng tỉnh bơ:
– Vì hôm ấy chúng tôi giận nhau.
Mọi người ngạc nhiên. Trần Vàng căn vặn:
– Từ nay đến hôm ấy còn những hơn tháng nữa, sao ông biết vợ chồng sẽ giận nhau?
Khuất Liêm đưa bàn tay phải của mình lên, trỏ vào móng ngón tay đeo nhẫn, bảo:
– Đây, cái đốm trắng tự dưng vô cớ xuất hiện trên móng ngón tay này, đó là điềm báo vợ chồng giận nhau…
Cả bọn cười ồ, cho là chuyện nhảm nhí, song không ai bảo ai, tất cả cùng đưa bàn tay phải lên, lật úp lại, chăm chú quan sát các móng tay của mình. Anh cu Thức ngồi cuối phòng kêu lên:
– Móng tay em cũng xuất hiện cái đốm trắng, nhưng lại ở ngón giữa…
Rồi chạy tới, đưa tay ra cho Khuất Liêm. Khuất Liêm xem rồi bảo:
– Vợ chú cũng không đi đâu, nhưng không phải do giận nhau, mà hôm đó cô ấy bị ốm.
Anh cu Thức giả vờ lo lắng, hỏi nửa đùa nửa thật:
– Ốm có nặng không anh?
Khuất Liêm trả lời, giọng nghiêm túc:
– Chỉ là cúm mùa thôi. Không sao đâu.
Cả bọn lại cười ồ, càng cho là nhảm nhí, rồi sôi nổi vạch lộ trình cho chuyến đi, phân công nhau chuẩn bị, Phong Ba lo xe cộ, Thủy vợ Phong Ba mang đồ nghề đi vẽ phong cảnh và kí họa… Ngọc vợ Trần Vàng lo chuyện hậu cần…
Gần sát ngày lên đường, Trần Vàng gọi điện thoại, hỏi Khuất Liêm có nên liên lạc trước với ông Phan trong bản Mèn hay không? Khuất Liêm nói không có ý định đó, bởi muốn dành cho ông ấy một sự bất ngờ, mình cũng bất ngờ sau bốn mươi năm, xem vật đổi sao dời như thế nào thì mới tuyệt thú. Sáng sớm hôm ấy đến địa điểm tập trung, Khuất Liêm quả đến một mình, vợ đêm qua bỗng nhiên giận dỗi vì cuộc rượu lúc tối với mấy ông bạn tâm giao, lỡ mồm nói mấy câu gì đó song không nhớ. Một lát sau, anh cu Thức cũng đến một mình. Vừa tới đã oang oang:
– Bà xã em quả nhiên đêm qua bị cảm cúm, nhức đầu xổ mũi. Bác Liêm thánh thật.
Mọi người lại cười vui, ai nấy vẫn nhớ chuyện quý ông Khuất Liêm xem móng tay hôm trước, có người xuýt xoa thán phục. Riêng quý ông Phong Ba thì trầm ngâm:
– Điềm báo hiện ra trên cái móng tay, tưởng nhảm nhí mà té ra có thật. Vậy là trong chúng ta cũng chứa “tâm linh” rồi. Thế mới là “tâm linh”.
Mọi người lại reo lên, tán thưởng.
Chuyến xe kềnh càng chậm rãi lên đường, trực chỉ phương Nam. Trên xe các quý bà ríu rít hỏi thăm nhau, các quý ông chuyện nổ như ngô rang. Xe đến thành phố Thanh Hóa thì dừng lại ăn trưa, nhậu nhẹt… mãi tận hai giờ chiều cuộc hành trình mới tiếp tục.
Xe vào tới bản bản Mèn thì trời đã nhá nhem tối. Nhà ông Phan vẫn nằm đúng vị trí trong trí nhớ của quý ông Khuất Liêm. Vẫn lưng chừng đồi, căn nhà gỗ, tường đất, mái liếp đã được thay thế bằng nhà xây mái bằng bê tông nom khá khang trang. Hồ Tĩnh Thủy kia rồi, song bị bao phủ một lớp sương mù dày đặc, nom như một cánh đồng bông trắng. Vợ chồng ông Phan mái tóc đã muối tiêu, nhưng cử động vẫn nhanh nhẹn, giọng vẫn trong trẻo như nước hồ thu, rắn đanh như đá cuội. Trong nhà có bóng mấy đứa trẻ con lấp ló sau mấy cây cột. Khỏi phải nói sự ngỡ ngàng và mừng rỡ của ông bà Phan. Sau màn chào hỏi và giới thiệu tíu tít, bữa tiệc mừng hội ngộ lập tức được các quý bà bày ra thoăn thoắt. Công việc chuẩn bị hậu cần của Ngọc, vợ Trần Vàng thật chu đáo, tuyệt vời con ông… giời.
Bữa tiệc diễn ra rất sôi nổi, quý ông Phong Ba cố ý chọn ngồi cạnh ông Phan, lựa lúc mọi người lắng xuống, liền gợi chuyện:
– Nghe ông Khuất Liêm đây kể ngày trước, anh em nhà ông đến nỗi phải chia lìa, chỉ vì mỗi cái chuyện nuôi cá dưới hồ. Bây giờ đã hàn gắn lại được chưa?
Ông Phan nghe hỏi, hơi khựng lại, chén rượu trên tay rung rung, đôi mắt như có ngấn nước, giọng buồn bã trả lời:
– Chưa ông ạ. Tôi vẫn nhớ thương chú ấy lắm, nhưng chú ấy cự tuyệt…
– Thế cái chuyện nuôi cá dưới hồ nó quan trọng đến thế kia ư? – Phong Ba hỏi tiếp.
Ông Phan chậm rãi kể, dõi đôi mắt nhìn ra phía hồ:
– Cái hồ này lạ lắm các ông ạ. Nước trong veo, xanh ngắt như thế, nhưng hễ cứ động tí là lại đục ngầu, chuyển sang màu đen kịt, có khi phải ba ngày, ba tuần hoặc ba tháng mới trong trẻo trở lại, tùy theo động nhiều hay động ít. Bố tôi ngày trước bảo sở dĩ cái hồ có tên Tĩnh Thủy là vì như vậy, phải tĩnh thì nước mới trong, hễ động thì nước biến thành mực. Mà đã nuôi cá thì thỉnh thoảng tất phải đánh bắt, sẽ làm động nước… vì thế tôi mới không muốn nuôi cá. Nhưng còn một chuyện khác nữa, tôi chưa kể với ai, chuyện liên quan đến con lợn nái bấy giờ đang nuôi trong chuồng…
Từ chuyện cái hồ, chuyển sang chuyện con lợn, tức là con Cúi Đuôi Cỏ mà Khuất Liêm đã kể ấy. Câu chuyện có vẻ ly kì. Mọi người im lặng chờ nghe ông Phan kể tiếp:
– Một buổi sáng sớm, tôi ra bờ hồ, thấy một con lợn màu vàng óng, bé bằng cái bắp chuối, từ dưới hồ đi lên, ướt lướt thướt, kéo theo một vệt nước. Con lợn vẫy đuôi, nom y như những bông cỏ kia. Tôi ngạc nhiên, bụng nghĩ lợn nhà nào xổng chuồng. Nhưng con lợn cứ quấn lấy chân tôi, không chịu rời ra. Tôi bèn đem nó về thả vào trong chuồng, nấu cám cho nó ăn rồi đi quanh khắp bản, hỏi xem có nhà nào bị xổng mất con lợn, thì không có nhà nào nhận.
Ông Phan dừng lại tợp một hớp rượu, rồi thong thả kể tiếp:
– Từ đó tôi nuôi nó, đặt tên là Cúi Đuôi Cỏ. Con Cúi Đuôi Cỏ lớn nhanh như thổi, cuối năm ấy đẻ ngay mười hai con bằng nhau chằn chặn. Đẻ xong, nuôi đủ ngày lập tức có người đến tận nhà hỏi mua, họ không trả giá lấy một tiếng, hốt gọn cả đàn… Cứ như thế mỗi năm hơn hai lứa, lứa nào cũng giống lứa nào.
Quý ông Phong Ba nghe đến đây bỗng buột miệng:
– Cứ như lợn thánh ấy nhỉ?
Quý ông Trần Vàng tiếp lời, có ý làm cho câu chuyện giãn ra tí, để ông Phan nghỉ ngơi:
– Tỉnh Thanh Hóa có suối cá thần, thì chuyện lợn thánh cũng có thể tin được chứ sao?
Ông Phan nói tiếp:
– Lúc đó tôi cũng nghĩ như thế đấy. Con lợn đã giúp gia đình tôi đỡ vất vả đi bao nhiêu. Và tôi coi cái hồ như là nơi phát tích của nó, nên càng không dám làm kinh động cái hồ ấy.
Thì ra là như vậy, đâu phải chỉ đơn giản vì chuyện thả cá mà anh em mâu thuẫn, đến nỗi phải lìa nhau. Quý ông Phong Ba thở phào vì đã hiểu ra, Khuất Liêm có vẻ sốt ruột, buột mồm hỏi một câu rất ngớ ngẩn:
– Thế con lợn ấy giờ còn không?
Mọi người cười ồ lên. Đã hơn bốn chục năm, có con lợn nào sống “thọ” đến như vậy? Ông Phan hơi cúi đầu, trầm giọng xuống trả lời:
– Con Cúi Đuôi Cỏ thì không còn, nhưng dòng dõi của nó thì vẫn còn. Con đang nuôi trong chuồng bây giờ là đời thứ ba của nó đấy. Vẫn giống lợn đuôi cỏ ấy. Nhờ có ba đời nhà nó, mà vợ chồng tôi mới đổi được từ nhà đất sang nhà xây khang trang như thế này – Vừa nói, ông Phan vừa quơ tay quay một vòng trỏ căn nhà.
Mọi người nghe nói lặng đi vì xúc động. Bỗng quý ông Trần Vàng reo lên, lập tức cử anh cu Thức đi chụp ảnh con lợn đem về đây cho mọi người xem. Một thằng cháu nội của ông Phan nhanh nhảu dẫn đường ra chỗ chuồng lợn.
Anh cu Thức đi một lát thì quay trở lại, giọng oang oang ngay từ cửa:
– Con lợn tuyệt đẹp các ông các bà ạ, mình mẩy nó tròn căng như một chiếc trống cái, màu lông vàng óng… Rồi giơ máy cho mọi người chuyền tay nhau xem, ai cũng tấm tắc. Cu Thức còn nói thêm với ông Phan:
– Nó có vẻ bồn chồn thế nào ấy bác ạ, cứ đi đi lại lại trong chuồng, thỉnh thoảng lại hộc lên một cái…
Qúy ông Phong Ba ngồi đấy, trả lời ngay:
– Chắc nó cũng linh cảm thấy trong nhà đang nói chuyện về nó. Lợn thần mà – rồi quay sang hỏi ông Phan:
– Nó vẫn có tên là Cúi Đuôi Cỏ chứ?
Ông Phan trả lời:
– Không. Tên ấy chỉ dành cho con đầu tiên thôi. Những con đời sau đều gọi chung là Cúi Vàng.
Câu chuyện còn rôm rả đến tận khuya. Các quý bà dắt nhau ra xe ôm về một đống nệm chăn, mùng mền đã chuẩn bị sẵn, nhanh chóng trải ra nền nhà, chia hai khu vực đàn ông, đàn bà, nằm như xếp măng, nom rất chi là… chuyên nghiệp.
Sáng hôm sau đoàn quý ông, quý bà xê dịch dậy sớm, riêng ông Phan chủ nhà vì tối qua quá chén nên vẫn còn ngủ khì. Mặc. Cả bọn bảo nhau ra suối vệ sinh cá nhân, ăn sáng qua loa rồi kéo nhau ra hồ Tĩnh Thủy. Quý ông Phong Ba không quên vác theo giá vẽ, đồ nghề lỉnh kỉnh của quý phu nhân là nữ họa sĩ Thủy.
Hồ Tĩnh Thủy hiện ra ngay trước mặt. Buổi sáng sương mỏng hơn chiều qua nên nhìn rõ mặt nước trong veo, xanh ngắt, lặng như tờ. Quý ông Khuất Liêm ngắm một lát, nét mặt đầy vẻ kinh ngạc, miệng lẩm bẩm:
– Lạ thật, lạ thật…
Quý ông Trần Vàng đứng ngay cạnh nghe thấy, hỏi:
– Lạ cái gì?
Khuất Liêm trỏ tay vào hòn núi ở giữa hồ, trả lời:
– Hình như mực nước hồ bây giờ cạn đi vài chục phân so với hồi tôi đóng quân ở đây. Hồi ấy đứng trên bờ không bao giờ nhìn thấy gầm núi như thế kia, phải lặn xuống tận nơi mới thấy…
Mọi người chăm chú quan sát. Hòn núi nhỏ tròn xoe, như một quả nấm nhô lên khỏi mặt hồ, cách mặt nước chừng vài chục phân. Thế thì không phải cái động, mà là gầm của một cây nấm khổng lồ bằng đá. Cảnh tượng thật là kì dị. Quý ông Phong Ba reo lên:
– Thắng cảnh là đây chứ còn đâu nữa.
Nói rồi quay đầu tìm vợ, thì quý bà họa sĩ đã kê giá vẽ lên từ lúc nào, đang khoát tay, múa múa liên tiếp những đường cọ lên mặt toan. Các quý bà khác thì đồng loại giơ điện thoại lên, thi nhau chụp xành xạch.
Tiếp theo, phu nhân Ngọc hô mọi người chia nhau ra, đi quanh hồ tìm hái cỏ đuôi lợn để chuẩn bị cho bữa trưa.
Trong lúc mọi người thưởng ngoạn phong thủy của cái hồ thì quý ông Phong Ba phát hiện một bóng người đang dò dẫm tiến về phía bờ hồ, vừa đi vừa chăm chú quan sát mặt đất. Người ấy chính là ông Phan. Phong Ba liền rảo bước chạy tới đón. Vừa chạm mặt đã hỏi ngay:
– Ông bị đánh rơi cái gì à?
Ông Phan ngẩng lên, mặt thất thần, giọng như lạc đi:
– Đêm qua con Cúi Vàng sổng chuồng mất rồi các ông các bà ơi…
Quý ông Phong Ba nghe thấy giật thót mình, lặng người, chưa biết nói thế nào thì ông Phan kể lể tiếp:
– Tôi ngủ dậy muộn,các ông các bà đã đi cả rồi, mới xuống chuồng lợn tính cho nó ăn thì không nó thấy đâu nữa. Lần theo dấu chân từ cửa chuồng thì thấy nó ra tới đây… – vừa nói, ông Phan vừa chỉ tay xuống dưới đất.
Quý ông Phong Ba cúi rạp người xuống quan sát. Quả nhiên có dấu chân lợn hướng về phía bờ hồ. Hai người bèn cùng nhau lần theo, đi thêm một đoạn nữa thì tới mép nước. Dấu chân đã biến mất. Ông Phan dường như đã hiểu ra điều gì đó, liền hai tay bưng lấy mặt, thốt lên một tiếng não nùng:
– Con Cúi Vàng lại trở về cái hồ này rồi các ông các bà ơi…
Mọi người vội vàng cùng nhau túm tụm lại xung quanh ông Phan, nét mặt ai cũng kinh ngạc. Quý ông Phong Ba, Trần Vàng và Khuất Liêm kéo nhau ra, thì thầm với nhau:
– Chẳng nhẽ chuyện chúng ta tới đây đã làm kinh động đến con lợn thánh? Nếu quả như vậy thì khó nghĩ quá…
Ai cũng muốn an ủi và chia buồn với ông Phan mà chưa biết nói như thế nào. Các quý bà đứng chết lặng. Quý bà họa sĩ, phu nhân của quý tộc họ Đờ thẫn thờ bỏ cả giá vẽ. Ngọc, phu nhân của Trần Vàng chả nghĩ gì đến việc lo chuyện hậu cần cho bữa trưa nữa, gương mặt buồn rười rượi. Con lợn là cả cơ nghiệp của nhà ông Phan. Trong lòng ai cũng nghĩ chua chát, không ngờ chuyến đi đang hào hứng, vui vẻ, bỗng dưng lại có cái kết buồn bã như thế này…
Ông Phan nhìn đăm đăm xuống hồ nước, như cố nhớ lại con Cúi Đuôi Cỏ ngày trước đã từ dưới đó đi lên, và con Cúi Vàng ngày nay, lại trở lại xuống dưới ấy. Bỗng có cái gì đó làm ông thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc, làm mọi người giật bắn mình. Ông trỏ tay xuống mép nước, chỗ in rõ mấy dấu chân của con lợn, giọng lạc đi:
– Sao bỗng dưng nước hồ lại cạn đi như thế kia? Vừa mới đêm qua…
Mọi người nhìn theo tay ông Phan. Ngấn nước cũ còn đấy, bùn vẫn chưa kịp khô. Quả là nước hồ đã rút xuống, như quý ông Khuất Liêm phát hiện ra lúc vừa tới đây, nhưng không phải từ bao giờ, mà vừa mới đêm qua…
Cho dù đó là chuyện của tự nhiên, thì sự trùng hợp vẫn không giải thích được. Cả bọn rúm lại bàn tán, mấy quý bà đã bắt đầu cảm thấy rờn rợn… Thật là chuyện bất ngờ chồng lên bất ngờ. Nhưng… có vẻ như vẫn chưa hết. Bỗng từ phía xa lại xuất hiện một bóng người đang hớt hải chạy tới, vừa chạy vừa vẫy vẫy tay… Nhìn ra thì là bà vợ ông Phan. Mọi người không ai bảo ai, cùng nhau rùng rùng chạy lại đón bà. Ông Phan vồ lấy vợ, hỏi như quát:
– Thấy con Cúi Vàng rồi hả?
Bà Phan lắc đầu, vừa thở vừa nói:
– Không phải chuyện con Cúi Vàng. Ông… ông về nhà ngay. Vợ chồng chú Hùng vừa đến nhà ta…
Đây mới đúng là tin sét đánh. Chú em trai lìa anh sau hơn bốn mươi năm, cuối cùng đã quay trở về… Ông Phan lập tức quên phắt chuyện mất con Cúi Vàng, hối hả túm lấy tay vợ rồi tung tăng chạy về nhà. Cả đoàn các quý ông quý bà cũng thu xếp đồ đạc, rùng rùng chạy theo.
Vừa về tới cổng, ông Phan buông tay vợ, chạy vùn vụt lên nhà, vừa chạy vừa gọi:
– Chú Hùng, chú Hùng ơi…
Ông Hùng từ trong nhà chạy ra. Hai anh em vồ lấy nhau. Hai mái đầu đã pha sương nghẹn ngào, không thốt lên lời nào. Hai bà vợ, chị em dâu cũng túm lấy nhau rối rít, như cách nhau nửa vòng trái đất vừa mới gặp lại. Đoàn các quý ông quý bà cũng vừa về tới nơi, đứng ngây người như những khán giả, chứng kiến cảnh anh em đoàn tụ thật là cảm động. Hai quý phu nhân Ngọc và Thủy nước mắt ràn rụa.
Ông Hùng đang ôm ông Phan, bỗng quỳ thụp xuống, chắp tay lạy anh như tế sao:
– Em lạy anh chị. Em lạy anh chị. Em biết tội rồi. Anh chị tha thứ cho vợ chồng em…
Ông Phan cúi xuống đỡ ông Hùng lên, miệng rối rít:
– Không, chú không có tội gì, chú không có tội gì…
Rồi hai ông dìu nhau vào trong nhà. Mọi người cùng vào theo.
Qua phút xúc động, ông Hùng bình tâm trở lại, ông bắt đầu kể chuyện mình, nhưng vẫn kể rất lộn xộn, như thể không biết nói chuyện gì trước, chuyện gì sau. Song mọi người cũng bắt đầu hình dung ra câu chuyện của ông.
Mang vợ con sang bản Mơ tận phía bên kia quả đồi, ông Hùng dựng một nếp nhà tre nứa, phát rẫy trồng sắn, trồng ngô… để sinh sống. Giấc mộng nuôi cá của ông vẫn đeo đuổi. Ông bà hì hục đào một chiếc ao rộng. Đào sâu mãi vẫn không có nước. Những lúc gặp trời mưa to thì ngập ao đấy, song cũng chỉ một tuần là nước lại rút đi đâu mất sạch, cuối cùng vẫn chỉ là cái ao cạn, mộng nuôi cá bất thành.
Nước ăn vợ ông phải gánh từ ngoài suối về. Ông lại đào một cái giếng. Giếng đào sâu chắc phải đầy nước, vùng này nhà nào cũng thế. Nhưng… cái giếng sâu hút cũng chỉ săm sắp nước, vừa đủ giữ một lớp bùn.
Hàng chục năm sống với một cái ao cạn và một cái giếng khô, vợ chồng con cái đã quên chúng đi, như một di tích hoang dã. Thì…
Sáng sớm hôm nay. Vâng, đúng hôm nay, ông bà tỉnh dậy và không tin vào mắt mình. Trời không có mưa, mà nước ở đâu đùn lên, gần ngập hết cái ao. Ông chạy lại chỗ cái giếng. Cái giếng cũng đầy nước, chỉ với tay là múc được. Nhưng… còn một bất ngờ nữa.
Nổi lềnh bềnh trên mặt nước giếng là một con lợn vàng, to như chiếc trống cái, con lợn ngoe nguẩy cái đuôi cỏ, mõm ụt ịt như chào ông…
Ông Hùng ôm con lợn bỏ vào trong chuồng. Biết giống lợn vàng này là của nhà ông anh trai, ông nghĩ bụng chắc đêm qua, ông Phan đã bí mật đem nó từ bản Mèn sang đây cho vợ chồng ông. Ý nghĩ đó làm tình cảm chôn chặt suốt bốn chục năm, bỗng ào ạt trở lại, cùng sự hối hận không bút nào tả xiết. Thế là vợ chồng ông tức tốc sang đây để xin lỗi ông Phan…
Nghe xong câu chuyện, ông Phan đưa mắt nhìn một lượt các quý ông quý bà trong đoàn du lịch, cái nhìn đầy ý nghĩa. Mọi người xem chừng ai cũng hiểu ý của ông. Trưởng đoàn du lịch, quý ông Trần Vàng hít một hơi dài, “E hèm!” một cái rồi trịnh trọng lên tiếng:
– Thay mặt tất cả các bạn trong đoàn du lịch, và cố nhân Khuất Liêm của hai ông họ Trương đây, tôi xin chúc mừng anh em các ông đã đoàn tụ sau bốn chục năm chia lìa. Không ngờ chúng tôi lại được hân hạnh chứng kiến sự kiện trọng đại này của gia đình nhà họ Trương. Vậy tôi có ý kiến, tất cả chúng ta, ngay bây giờ, lên xe sang bản Mơ. Trưa nay chúng ta sẽ tổ chức một bữa tiệc mừng cuộc đoàn viên tại nhà ông Trương Hùng…
Mọi người reo lên, vỗ tay hưởng ứng sáng kiến bất ngờ của vị trưởng đoàn. Thế là tất cả cùng ra xe, mấy đứa cháu nội của ông Phan nhảy tót lên, ngồi ngay cạnh tài xế.
Chia tay bản Mèn, chiếc xe đưa đoàn người sang bản Mơ ở phía Nam, vòng vèo chừng hai tiếng đồng hồ mới tới nơi. Khung cảnh cũng hoang sơ như bản Mèn, song thiếu cái hồ. Vào nhà ông Hùng, các quý bà cùng chị em dâu nhà họ Trương nhanh chóng bắt tay vào công việc nội trợ, chuẩn bị cho bữa tiệc dưới sự chỉ huy của quý phu nhân Ngọc. Các quý ông có ba chỗ cần phải xem tận mắt ngay lập tức: cái ao, cái giếng và con lợn vàng.
Chiếc ao hình chữ nhật, rộng chừng vài trăm mét vuông, xung quanh mọc um tùm cây dại, nước ngập lưng chừng ao, trong veo, nhìn rõ lớp cỏ và cây dại còn xanh bị chìm dưới đáy. Cái giếng đường kính khoảng một mét, nước cũng dâng cao, làm ngập bủm những lớp dương xỉ mọc kín xung quanh thành giếng. Quý ông Khuất Liêm bảo:
– Y như nước bên hồ Tĩnh Thủy các ông ạ.
Quý ông Phong Ba đồng tình:
– Quả là nước mới đùn lên đêm qua. Cây cỏ ngập dưới nước vẫn còn tươi nguyên như thế kia.
Xem đến con lợn thì kinh ngạc thật sự. Anh cu Thức kêu lên:
– Đúng con Cúi Vàng tối hôm qua đây rồi…
Bữa tiệc mừng anh em nhà họ Trương trưa hôm ấy diễn ra cực kì vui vẻ. Khỏi cần phải nói mọi người phấn khởi đến cỡ nào. Rượu tràn cung mây, uống đến quá nửa buổi chiều mới gượng kết thúc một cách luyến tiếc.
Lên xe chia tay nhà họ Trương và bản Mơ để trở về Hà Nội, mọi người cũng có vẻ đã thấm mệt, hoặc theo đuổi những cảm xúc khó tả của riêng mình nên ai cũng im lặng một lúc lâu. Nhìn quý ông Trần Vàng và Khuất Liêm đang gật gật, gù gù, ngài quý tộc họ Đờ bảo nhỏ:
– Tôi tin chuyện phong thủy các ông ạ. Chắc chắn có một cái mạch ngầm, thông từ bản Mèn sang bản Mơ. Nhưng phải gặp đúng thời thì nó mới thông…
Quý ông Khuất Liêm tiếp lời:
– Và con lợn đã theo lối đó để sang nhà ông Hùng.
Quý ông Trần Vàng thắc mắc:
– Còn chuyện đoàn tụ của anh em nhà họ Trương, thầy phong thủy bảo anh em nhà ấy phải chia lìa tới ba đời cơ mà?
Quý ông Phong Ba ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
– Thế con lợn thánh kia chả là đời thứ ba là gì?
Trần Vàng gật gù:
– Ờ nhỉ. Tại ông thầy phong thủy kia không nói rõ. Là ba đời con lợn, chứ không phải ba đời người.
Phong Ba lại quay sang Khuất Liêm:
– Tôi bắt đầu tin vào chuyện cái móng tay của ông. Chớ bỏ qua những điềm báo, dù nó chỉ nằm trên một chiếc móng tay. Nhưng vẫn thắc mắc một điều.
– Điều gì?
– Tại sao ông tính ra khoảng thời gian cái điềm báo sẽ ứng nghiệm?
– Căn cứ vào vị trí của cái đốm trắng. Vì móng tay sẽ dài ra, nên vị trí của nó cũng di chuyển, tốc độ mỗi tháng khoảng vài ly. Khi nào đến vị trí bấm móng tay, thì điềm báo sẽ ứng nghiệm.
Phạm Lưu Vũ