Khởi đăng nhiều kỳ tiểu thuyết Phạm Đình Trọng: Rằm Tháng Bảy (Kỳ 1)

Tác giả: Phạm Đình Trọng

Mục lục

Photo: Pixabay

MỘT

Buổi sáng nắng đẹp. Chiếc ô tô com măng ca màu rêu, mái bạt khum tròn từ cổng doanh trại quân đội trên đường Trường Chinh, Hà Nội, tiến ra, hòa vào dòng xe nhấp nhô cuồn cuộn trên đường phố đang tầm đông đúc. Những hình ảnh quen thuộc của Hà Nội thanh bình nhưng nhốn nháo, xô bồ hiện ra và lướt qua khung kính ô tô. Đường Trường Chinh. Ngã Tư Sở. Thảm cây xanh trước học viện Thủy lợi. Gò Đống Đa. Văn Miếu … Trong xe, ngoài người lái xe còn trẻ mặc quân phục, mang quân hàm thiếu úy, ba người còn lại đều đã có tuổi. Người tóc muối tiêu. Người tóc bạc trắng. Vẻ mặt ai cũng phong trần, dãi dầu nắng gió và toát ra vẻ điềm tĩnh, trầm tư của người từng trải và sự ung dung, thanh thản của người đã làm xong xuôi mọi bổn phận trong gia đình, mọi trách nhiệm với xã hội.

Chiếc ô tô vào cổng tòa nhà cơ quan tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, cơ quan MIA. Dừng lại trong sân tòa nhà, chiếc ô tô nhà binh xám xịt như một gò đất, như một công sự chiến đấu, lạc lõng bên tòa biệt thự duyên dáng, bên bồn hoa cây cảnh và bên chiếc xe du lịch đời mới bóng loáng. Ba người đàn ông lớn tuổi, bên mình vẫn đeo chiếc xà cột sĩ quan quen thuộc thời chiến tranh ra khỏi xe, đi qua mảnh sân, bước lên thềm nhà. Tuy áo họ mặc là áo trắng, áo sọc màu tươi tắn dân sự nhưng chiếc quần họ mặc, đôi giày họ đi đều là đồ nhà binh. Con người nhà binh càng thể hiện rõ ở bước đi dứt khoát, mạnh mẽ. Họ là những người lính già đã trở về đời sống dân sự.

Một cô gái trẻ xinh đẹp mặc áo dài vàng óng đón ba người lính già mặc áo dân sự dẫn vào một phòng họp rộng. Ba người lính già được những người đã có mặt trong phòng họp đứng dậy niềm nở bắt tay. Nhìn thấy hai người nước ngoài da trắng, ba người lính già bước tới. Không nói gì nhưng nét mặt tươi cười cởi mở, bàn tay nắm chặt, lắc mạnh của ba người lính già với hai vị khách nước ngoài đã là ngôn ngữ của những tấm lòng hiểu biết, cởi mở, chia sẻ với nhau. Rời tay nhau ra, họ kéo ghế ngồi cạnh nhau.

Hơn mười người ngồi quanh cái bàn rộng. Người chủ trì cuộc họp đứng lên nói:

–  Thưa quý vị. Những người bạn Hoa Kỳ đã làm việc với chúng tôi nhiều lần, chúng tôi đều đã quen biết nhau. Tôi cũng đã đến làm việc với bộ tư lệnh Phòng không – Không quân và đã được gặp ba vị đại tá hôm nay đến đây. Nhưng những vị khách của chúng tôi lại chưa biết nhau. Vì thế tôi xin giới thiệu. Hai vị khách ở phái đoàn MIA Hoa Kỳ: Ông Robert, trưởng đoàn. Cùng đi với ông Robert có ông Alex, chuyên viên của phái đoàn MIA. Những vị khách Việt Nam của chúng tôi là những sĩ quan cao cấp quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam, những người canh giữ bầu trời Hà Nội những ngày Hà Nội rực lửa chiến tranh năm 1972 sẽ cùng chúng tôi là chủ nhà tiếp các bạn Hoa Kỳ. Tôi xin giới thiệu Đại tá Văn Đa. Đại tá Huy Toàn. Đại tá Trần Việt.

Lần lượt những người được giới thiệu đứng lên, cúi chào. Người chủ trì nói tiếp:

–  Còn tôi là Đặng Đức Sinh cùng toàn bộ cơ quan MIA Việt Nam đã quá quen thuộc với các bạn Mỹ. Công việc hôm nay của chúng ta là: Theo đề nghị của ông Robert, lần này chúng ta chỉ tập trung tìm kiếm những người lái máy bay chiến đấu Hoa Kỳvẫn mất tích trong một không gian và một thời gian hẹp là Hà Nội mười hai ngày đêm cuối tháng mười hai, năm 1972. Vì thế, lần này chúng tôi mời những người bảo vệ bầu trời Hà Nội năm đó, những người đã làm nên sự kiện Hà Nội tháng mười hai, năm 1972, những người biết rõ nhất những điều mà ông Robert quan tâm tìm kiếm. Cụ thể, những điều ông Robert quan tâm và đề xuất với chúng tôi hôm nay là gì, xin ông Robert cho biết.

Ông Robert đứng lên nói giọng trầm ấm. Cô gái trẻ xinh đẹp mặc áo dài vàng óng ngồi cạnh người chủ trì cuộc họp, chuyển lời ông Robert ra tiếng Việt:

–  Thưa quí vị. Thưa các bạn Việt Nam quí mến. Sau nhiều lần đến Việt Nam, tôi được biết trong ngôn ngữ Việt Nam có một từ có sức nặng rất lớn của tình cảm và có tính triết lí sâu sắc về số phận con người là từ duyên nợ mà ngôn ngữ chúng tôi không có từ tương ứng. Chúng ta được ngồi với nhau thế này là do duyên nợ của lịch sử hai nước. Một lần có duyên gặp nhau, cả đời mang nợ tình nghĩa với nhau. Duyên nợ của chiến tranh mất mát, đau khổ hôm qua và duyên nợ của cuộc sống thanh bình tươi vui hôm nay.

Ông Robert ngừng lời. Từ giọng nói vang vang, lưu loát xã giao, ông chuyển sang chậm rãi, nhỏ nhẹ, đầy biểu cảm:

–  Hôm qua có những người đàn ông ưu tú của nước Mỹ đã đến đây đổ máu ở đây và nằm lại nơi đây, vì thế mảnh đất Việt Nam xa xôi, cách trở nay đã thành mảnh đất duyên nợ với nước Mỹ, mảnh dất vô cùng gần gũi, thân thuộc với chúng tôi. Chúng tôi thay mặt nước Mỹ đi tìm những công dân Mỹ, những linh hồn Mỹ còn lưu lạc, đón họ về, cảm ơn họ và cũng cảm ơn đất nước Việt Nam, con người Việt Nam đã bao dung với họ. Quả thực nếu không có sự bao dung đó, chúng tôi không thể trở lại đây, trở lại với duyên nợ của mình. Sự bao dung Việt Nam làm cho duyên nợ của chúng ta càng sâu nặng hơn. Lần này trở lại với tấm lòng bao dung Việt Nam, trở lại với duyên nợ Việt Nam chúng tôi đi tìm lời giải cho hai nghi vấn.

Ông Robert dừng lời đưa mắt nhìn từng người trong phòng họp như muốn thăm dò, muốn nhắc nhở sự quan tâm đến điều ông sắp đặt ra rồi ông chậm rãi:

–  Vâng. Chúng tôi có hai nghi vấn. Nghi vấn thứ nhất là có một máy bay chiến đấu của chúng tôi còn vùi trong đất ở phía Bắc thủ đô Hà Nội và nghi vấn thứ hai là có thể trong máy bay đó vẫn còn có một người đàn ông của chúng tôi. Đọc lại biên bản, ghi chép diễn biến từng ngày trong mười hai ngày đêm chiến dịch Linebacker II cho chúng tôi hai nghi vấn và cũng là hai niềm tin như vậy. Lần này chúng tôi đến Việt Nam chỉ tập trung vào tìm kiếm chiếc máy bay đó và người đàn ông của chúng tôi còn ở lại cùng máy bay. Chúng tôi rất cảm ơn tấm lòng bao dung Việt Nam đã giúp chúng tôi rất nhiều trong công việc nhân đạo của chúng ta. Đặc biệt, chúng tôi rất cảm động và biết ơn sự chỉ dẫn chân thành, vô tư và cao cả của những sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, những người có mặt trong sự kiện lịch sử Hà Nội tháng mười hai, năm 1972. Xin cảm ơn.

Người lính tóc bạc, đại tá Văn Đa đứng lên nói:

–  Thưa anh Sinh. Thưa ông Robert. Thưa các anh, chị. Chiến dịch Linebacker II, không quân Hoa Kỳ không phải chỉ đánh vào Hà Nội mà còn đánh vào Hải Phòng, Thái Nguyên, Bắc Giang và nhiều trọng điểm ở các tỉnh quanh Hà Nội. Trong mười hai ngày đêm các trận địa phòng không ở miền Bắc Việt Nam đã bắn rơi tám mươi mốt (81) máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ, trong đó lực lượng phòng không Hà Nội bắn rơi ba mươi (30) máy bay. Trong ba mươi máy bay đó có hai mươi ba (23) máy bay Bê năm mươi hai (B52), còn lại là các loại máy bay Ép một trăm mười một (F-111), Ép bốn (F-4), A sáu (A-6), A bảy (A-7), E bê sáu sáu (EB-66), vân vân.

Dừng giây lát nhìn hai người khách Mỹ, đại tá Văn Đa khẳng định:

–  Nếu máy bay rơi tại chỗ và người lái không kịp thoát ra thì chắc chắn đó là chiếc Ép một trăm mười một. Đây là loại máy bay hiện đại nhất của Hoa Kỳ lúc đó, có thể bay thấp dưới một trăm mét, dưới tầm phát hiện của sóng ra đa, dưới cả tầm lưới lửa dày đặc của các trận địa pháo phòng không tầm cao. Khi mang bom, Ép một trăm mười một xòe sải cánh dài tới hơn mười chín mét giữ ổn định. Nhưng hết bom, cánh cụp lại, thu về chỉ còn một nửa, tốc độ bay rất cao, thoát lẹ khỏi tọa độ lửa. Với những cuộc chiến tranh thông thường, đây là một ưu thế rất lớn, một sức mạnh vượt qua mọi đối kháng để giành chiến thắng. Nhưng cuộc chiến tranh Việt Nam lại là cuộc chiến tranh nhân dân. Bảo vệ bầu trời Hà Nội còn có các trận địa dân quân, du kích, giăng lưới lửa tầm thấp dày đặc của các loại súng bộ binh thông thường. Bay thấp dưới một trăm mét rất dễ dính đạn từ các trận địa này và bay quá thấp để loại bỏ sóng ra đa, loại bỏ lưới lửa đạn pháo tầm cao thì khi dính đạn tầm thấp, người lái chưa kịp thao tác xử lí gì, máy bay đã cắm sâu vào đất rồi!

Mở xà cột lấy ra tấm bản đồ trải rộng trên bàn, đại tá Văn Đa nói tiếp:

–  Toàn bộ số máy bay vào đánh phá Hà Nội bị hạ trong mười hai ngày đêm khốc liệt đó đều được đánh dấu trên bản đồ này. Nhưng vị trí xác định trên bản đồ là tọa độ lúc máy bay bị tiêu diệt, không phải điểm tiếp đất của nó. Không quân, tên lửa không thể biết được mục tiêu họ tiêu diệt rơi xuống chỗ nào. Đến những trận địa pháo cao xạ nhìn thấy rõ đường đạn của họ quất trúng mục tiêu, máy bay nổ tung trong lưới lửa họ giăng ra mà họ cũng không thể biết chiếc máy bay đang đùng đùng bốc cháy đó lao xuống đất ở điểm nào. Nhưng trung đoàn tôi có một đại đội phối hợp với du kích xã Thường Xuân đón lõng đánh chặn những chiếc máy bay vào đánh bom ga xe lửa Đông Anh và khu kho tàng khí tài lớn Uy Nỗ. Một máy bay Ép một trăm mười một đã bị lưới lửa tầm thấp của những trận địa này bắn rơi tại chỗ. Tôi xin giới thiệu đại tá Trần Việt và đại tá Huy Toàn hồi đó là chính trị viên và đại đội phó của đại đội súng mười bốn li năm (14,5mm), đã phối hợp cùng các trận địa súng bộ binh du kích xã Thường Xuân bắn hạ chiếc máy bay đó. Rất may là những sĩ quan chỉ huy trận địa giăng lưới lửa tầm thấp ngày đó, đại tá Trần Việt và đại tá Huy Toàn biết rõ về chiếc máy bay rơi và xác định được chính xác điểm rơi của nó nay vẫn còn đủ trí nhớ và sức khoẻ. Đề nghị đại tá Trần Việt ngày đó là chính trị viên đại đội bắn máy bay tầm thấp bố trí ở Thường Xuân cho biết cụ thể về chiếc máy bay bị trận địa các anh bắn rơi tại chỗ.

Người được giới thiệu là đại tá Trần Việt, mái tóc muối tiêu, dáng cao gầy đứng lên chỉ vào bản đồ:

–  Thưa các vị khách Hoa Kỳ. Thưa các anh chị. Hồi đó trận địa đại đội chúng tôi bố trí ở đây, cánh đồng xã Thường Xuân. Sau đêm đầu chiến đấu không hiệu quả, lại bị đánh trúng trận địa, thương vong lớn, mất cả đại đội trưởng, chúng tôi phải thay đổi cách đánh. Ngay trong đêm chúng tôi chuyển trận địa. Nhưng ở trận địa cũ chúng tôi vẫn duy trì cành lá ngụy trang xanh tươi. Thay cho những nòng pháo đã chuyển đi là những đoạn tre buộc lá ngụy trang nghếch lên trời như trận địa vẫn vững vàng bám trụ, vẫn trong tư thế chiến đấu. Chúng tôi còn tạo ra những chớp lửa và luồng khói như trận địa đang nổ súng. Còn trận địa thật chúng tôi chuyển vào gần lũy tre rìa làng cùng với các trận địa của du kích tạo thành một bức tường lửa tầm thấp trải dài và đan kín hướng máy bay hạ độ cao đánh vào trận địa cũ của chúng tôi. Rạng sáng ngày hai mươi sáu tháng mười hai, trận địa cũ của chúng tôi đã trở thành trận địa nghi binh thu hút nhiều đợt, nhiều tốp máy bay địch đến đánh phá ác liệt. Khi trời đã sáng rõ, đợt đánh cuối cùng của máy bay Mỹ vào trận địa nghi binh vừa chấm dứt, chúng tôi liền được các đài quan sát từ xa thông báo mục tiêu máy bay tầm thấp xuất hiện. Đài quan sát của chúng tôi bắt được mục tiêu thì các nòng súng từ chuỗi trận địa Thường Xuân cùng hướng về một phía, đồng loạt nổ súng. Khối lửa lớn bùng lên ngay trên đầu chúng tôi và lao vào trong làng. Chiếc máy bay trúng đạn đã lao xuống ngôi nhà của một nông dân, giết chết luôn ông chủ nhà. Đến nay tôi vẫn nhớ ông chủ nhà xấu số đó tên là Tình nhưng ở làng người ta vẫn gọi ông theo tên con trai là ông Đằm.

Người chủ trì cuộc họp sốt sắng hỏi:

–  Đến nay chiếc máy bay đó vẫn còn vùi trong đất dưới nhà ông Đằm hay người ta đã moi nó lên bán sắt vụn rồi, bác Việt?

Đại tá Văn Đa đứng lên trả lời thay đại tá Trần Việt:

–  Hồi đó sư đoàn chúng tôi có cho ô tô về Thường Xuân thu nhặt xác máy bay đưa về phòng truyền thống. Nhưng chúng tôi đến hơi trễ. Dân làng đã bóc gần hết nhôm trên cánh máy bay chế biến thành đồ dùng gia đình trang bị cho cả làng. Xoong, nồi, thùng gánh nước, cả ca uống nước, hộp đựng dao cạo râu của mấy ông già, hộp đựng bút cho lũ trẻ con đi học. Chúng tôi chỉ thu được bộ khung xương của một phần cánh máy bay còn lại trên mặt đất. Thân và một bên cánh máy bay vùi sâu trong đất thì đành chịu, không làm sao moi lên được, nay chắc vẫn còn đó.

Đại tá Huy Toàn:

–  Khi được tham gia viết bộ sử sư đoàn, tôi có trở lại thăm Thường Xuân vài lần để viết lại trận đánh xứng đáng được đi vào lịch sử binh chủng Phòng không Việt Nam. Ngôi nhà ông Đằm đã xây lại, đã xóa hết dấu vết của chiếc máy bay rơi. À, vẫn còn cây mít cụt ngọn do chiếc máy bay rơi đã phạt mất. Tôi có hỏi bà Đằm và người dân ở đó, họ đều nói rằng phần máy bay chìm sâu trong đất cả chục mét, chỉ có cuốc xẻng không thể moi lên được thì vẫn còn nguyên dưới nền sân nhà. Nhưng …

Đại tá Huy Toàn đắn đo rồi bộc lộ nỗi băn khoăn:

–  Phần thân máy bay chắc chắn vẫn còn đó. Điều tôi băn khoăn không phải ở chiếc máy bay mà ở ngôi nhà, ở những người chủ nhà. Nhà đã sập, ông chủ nhà đã chết vì chiếc máy bay rơi. Ngôi nhà sập đã dựng lại bền vững, tường xây, mái ngói và ngôi nhà cũng đã hàn gắn được phần nào vết thương trên mặt đất và vết thương trong lòng những người còn sống, ngôi nhà đã mang lại cho gia đình họ cuộc sống ổn định, yên ấm. Bây giờ đào bới tìm lại chiếc máy bay là phải phá bỏ ngôi nhà, là khoét lại vết thương trong lòng những người sống ở ngôi nhà đó, là lại làm đảo lộn cuộc sống ổn định, yên ấm của họ. Moi xác máy bay lên không phải chỉ là việc khai quật đất mà còn khai quật cả nỗi đau chiến tranh trong lòng người, khai quật cả nền móng ngôi nhà mới xây dựng lại. Không phải chỉ khó được gia đình chấp nhận mà lương tâm chúng ta cũng không nỡ. 

HAI

Chiếc taxi bon bon trên đường phố Hà Nội. Trong xe, hàng trên, cạnh lái xe là cô gái trẻ người Việt. Hàng sau có hai người Mỹ. Người đàn ông ngoài năm mươi tuổi và người đàn bà ngoài bảy mươi tuổi. Chiếc ô tô chạy vào đường Thanh Niên và dừng lại bên hồ Trúc Bạch. Cô gái ra khỏi ô tô nhanh nhẹn mở cửa phía sau đón bà già Mỹ rồi cô dẫn hai người Mỹ đến trước tấm bảng bê tông ghi lại sự kiện viên thiếu tá John McCain lái máy bay Mỹ bị bắn hạ rơi xuống hồ Trúc Bạch. Chăm chăm nhìn tấm bảng bê tông, nghe cô phiên dịch giới thiệu sự kiện rồi bà mẹ Mỹ đến bên hồ, nhìn ra mặt hồ bảng lảng hơi sương.

Hai người Mỹ cùng cô gái Việt Nam trên đường phố Hà Nội. Người đàn ông Mỹ hăm hở đi trước. Ba lô trên vai. Bản đồ trên tay. Đôi mắt hướng tới. Họ vào bệnh viện Bạch Mai xem phòng trưng bày hình ảnh bệnh viện chỉ còn là những tấm bê tông đổ sập dưới thảm bom của máy bay B52 Mỹ. Họ đặt hoa ở tượng đài của bệnh viện về sự kiện này. Hai người Mỹ chăm chú nghe cô gái Việt Nam dịch những hàng chữ ghi trên tượng đài ra ngôn ngữ của họ. Trong những ngày Hà Nội chìm trong khói lửa bom đạn, giường bệnh chuyển xuống tầng hầm, ngoài chữa bệnh dân sự, bệnh viện còn cứu chữa người dân và người lính bị thương từ những nơi bị máy bay Mỹ đánh phá chuyển về. Đêm hai mươi hai, tháng mười hai, năm 1972 (22.12.1972), máy bay Mỹ đánh bom san bằng bệnh viện. Hai mươi tám thầy thuốc và người bệnh bị chết vùi dưới đống gạch vụn.

Trên đường phố Khâm Thiên. Hai người Mỹ và cô gái Việt Nam bước đến đài tưởng niệm Khâm Thiên Khắc Sâu Căm Thù Giặc M. Vẫn tiếng cô gái dịch hàng chữ ghi trên đài tưởng niệm cho hai người Mỹ nghe. Đây là nhà số 51 phố Khâm Thiên. Đêm hai mươi sáu, tháng mười hai, năm 1972 (26.12.1972), một quả bom từ máy bay Mỹ phóng trúng ngôi nhà, giết chết toàn bộ bảy người trong gia đình. Nay không gian ngôi nhà thành đài tưởng niệm 278 người dân phố Khâm Thiên bị bom Mỹ giết chết trong đêm ngay sau ngày Chúa giáng sinh.

Hai người Mỹ và cô gái Việt Nam đến bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Người đàn ông Mỹ chăm chú săm soi từng chi tiết xác chiếc máy bay Mỹ F-111 ở sân bảo tàng. Ông chỉ vào hàng chữ trên thân máy bay và rì rầm nói với bà già Mỹ như giải thích nội hàm hàng chữ. Họ đứng trước tấm bản đồ lớn khu vực Hà Nội treo trên tường đánh dấu những nơi máy bay Mỹ bị tiêu diệt trong sự kiện mười hai ngày đêm cuối tháng mười hai năm 1972.

Ngước lên tấm bản đồ lớn trên tường, người đàn ông Mỹ chăm chú nhìn vào điểm vẽ hình chiếc máy bay bốc cháy cùng hàng chữ đỏ Thường Xuân 26.12.72. Ông mở tấm bản đồ nhỏ vẫn cầm trong tay ra và tìm một điểm trên thảm xanh của cánh đồng phía Bắc Hà Nội, ghi vào đó hàng chữ viết hoa đậm nét THƯỜNG XUÂN 26.12.72.

BA

Xã Thường Xuân. Sương sớm còn bảng lảng trên cánh đồng, trong khóm tre. Lác đác những tốp người ra đồng. Người đi bộ. Người đi xe đạp, đi xe máy. Trên xe buộc dụng cụ làm đồng, cuốc, bình phun thuốc trừ sâu, bao phân bón … Sau khóm tre xum xuê đầu làng là ngôi nhà tầng xinh xắn mới xây của mẹ con bà Đằm. Tường nhà màu hồng sáng sủa còn thẫm từng mảng ẩm ướt vì lớp vôi màu mới quét chưa khô. Trên mảnh sân rộng lát gạch vuông Bát Tràng đỏ tươi, ngổn ngang những đống cát, gạch, xi măng, những dụng cụ của thợ hồ, thước gỗ, dao xây. Trên mảnh vườn trước sân là ba cây cau và dàn trầu xanh tốt. Bên bức tường hoa đang xây dở bao quanh vườn, Mạnh, con rể bà Đằm cởi trần, tuy mái tóc dày đã ngả màu sương chiều nhưng cơ bắp trên người còn cuồn cuộn sức vóc đang đánh mẻ hồ mới. Bà Đằm xách túi từ trong nhà đi ra, hỏi Mạnh:

–  Liệu sáng nay có xong không, con?

–  Con cố làm cho xong sớm rồi còn ra đồng bẻ ngô với nhà con.

Bà Đằm nhắc:

–  Làm xong, con dọn hết vôi vữa đất cát rồi quét rửa sân cho sạch để tối mẹ bầy lễ. Gian nhà thờ còn thiếu cái đèn thắp sáng. Con đi mua đèn lắp cho mẹ.

Bà Đằm đi khuất, Thắm, vợ Mạnh quảy đôi thúng từ trong nhà đi ra:

– Làm xong ở đây anh ra đồng ngay bẻ ngô với em nhá. Phải có anh mới bẻ xong mảnh ngô nhà mình trong sáng nay.

– Mẹ vừa bảo anh làm xong phải xách nước rửa sân để tối mẹ bầy lễ cúng. Không biết mẹ cúng thổ thần trình báo nhà mới hay cúng rằm tháng bảy. Dù xong hay không, gần trưa anh sẽ mang xe ra chở ngô cho em. Em cất quang gánh đi, mang mấy bao tải ra, cứ tống ngô vào đó, anh sẽ mang xe ra chở.

Thắm bảo chồng:

–  Em có mang bao tải đây rồi nhưng vẫn mang quang gánh để lỡ anh không ra được thì em phải gánh về. Em cất gánh đi. Anh phải ra nhé. Anh mang xe cải tiến ra, chở cả ngô cho chị Lành luôn. Hôm nay chị Lành cũng bẻ ngô cạnh ruộng nhà mình đấy.

Nắng sớm trải từng vệt lấp lánh trên đường làng. Thắm dừng lại trước ngõ nhỏ dẫn vào ngôi nhà mái tranh, tường đất thấp nhỏ, cũ kĩ hiếm hoi còn sót lại trong làng. Thắm gọi:

–  Chị Lành ơi, đi bẻ ngô.

Tiếng phụ nữ trả lời:

–  Thắm ơi, đợi chị một tí. Chị ra ngay đây.

Người đàn bà khô gày, cũng quang gánh trên vai, từ trong ngõ đi ra. Dù Thắm gọi là chị nhưng với gương mặt khắc khổ, rầu rĩ, và tiều tuỵ, với dáng đi lầm lũi của một bà già, người làng vẫn gọi người đàn bà quá lứa chưa chồng tên Lành là bà, bà Lành. Nét thiếu nữ duy nhất còn lại ở Lành là mái tóc dài óng ả thả sau lưng. Dáng thiếu nữ của Lảnh chỉ được nhận ra khi nhìn từ phía sau thấy dáng người cao dỏng, thon thả và mái tóc dài. Thắm bảo:

–  Chị cất quang gánh đi. Mang theo mấy cái bao tải thôi, tống ngô vào bao tải. Hái xong ngô, nhà em mang xe cải tiến ra, chở luôn cho chị, vừa nhẹ nhàng vừa nhanh chóng. Chị khỏi phải gánh.

–  Bãi ngô nhà chị bé tí, có nhiều nhặn gì đâu, chị gánh được mà.

–  Có người phục vụ chị em mình, tội gì phải gánh cho khổ. Chị vào lấy bao tải đi.

Bà Lành quay quả trở vào, một thoáng lại ra ngay:

–  Đi em. Chị mang ba bao tải đây rồi.

Hai người đàn bà bước vội vã trên đường làng. Những vệt nắng sớm loang loáng lướt qua người họ. Một người tươi tốt, mỡ màng, vẻ mặt rạng rỡ, trẻ trung. Một người héo hon, âm thầm, già nua, tiều tụy. Nhìn dáng vẻ, họ như cách nhau cả thế hệ. Nhưng họ đều ở tuổi ngoài năm mươi, chỉ hơn kém nhau hai, ba tuổi. 

Hai người đàn bà vừa đi khỏi ngõ thì từ trong ngõ có ngôi nhà tranh lụp sụp, một ông già cao lêu đêu như sếu vườn và gày guộc như cành tre khô vác cuốc đi ra. Đó là lão Hưỡu. Lão Hưỡu cũng đi theo con đường làng hai người đàn bà vừa đi.

(còn tiếp)

Phạm Đình Trọng

Có thể bạn cũng quan tâm

Website này sử dụng cookie để mang lại trải nghiệm tốt nhất cho bạn. Bằng cách nhấn 'Đồng ý', bạn chấp thuận việc sử dụng cookie theo Chính sách quyền riêng tư của chúng tôi. Đồng ý Xem chính sách quyền riêng tư

Secret Link