Trung Hoa Pháp Chế Sử, Nguyễn Duy Chính dịch (Kỳ 1)

Tác giả: Nguyễn Duy Chính

Nguyên tác: TRUNG HOA PHÁP CHẾ SỬ
Trần Thu Vân – Trương Bình chủ biên
Trung Hoa Pháp Chế Xuất Bản Xã, 1999
Nguyễn Duy Chính dịch

Xử án đời Thanh
Nguồn: Local Government in China Under the Ch’ing

LỜI NGƯỜI DỊCH

Tuy nêu cao tinh thần đứng riêng một cõi, trên nhiều mặt nước ta vẫn coi Trung Hoa như một mô hình mẫu để xây dựng định chế, chính trị, văn hoá, luật pháp. Khi còn ở bậc đại học, pháp chế là một môn học quan trọng của các ngành Luật Khoa, Hành Chánh vì nếu không biết luật pháp được vận hành như thế nào thì không thể đưa ra quyết định đúng đắn khi làm việc. Luật pháp là khuôn mẫu để hành chánh công quyền dùng làm khuôn khổ để không vượt ra ngoài quyền hạn được qui định.

Thế nhưng việc tìm hiểu các qui luật và nguyên tắc không chỉ biết và nhớ các điều luật. Một tầng cao hơn của xã hội Á Đông còn là lễ, tức là những nguyên tắc đúng với luật mà còn phải tuân theo lẽ phải, lấy đạo đức làm thước đo và giới hạn của quyết định sao cho “làm quá điều nhân mà không làm quá điều nghĩa”. Việc quá khắt khe, câu chấp vào luật lệ đôi khi biến chúng ta thành kẻ ác.

Ở tầng sâu hơn, luật pháp của nước ta nói riêng và của khu vực Đông Á nói chung đều dựa vào trật tự của xã hội, phán xét con người dựa những qui luật xã hội ấy. Tôn ti, cách ứng xử, đối đãi được qui định dù thành văn hay bất thành văn thì vẫn là một trong những điều kiện cốt yếu để nắm vững những định chế xã hội trong đời sống. Những ai vi phạm hay bước ra khỏi vòng cương toả của lễ giáo đều bị xa lánh hay trừng phạt.

Nghiên cứu về luật pháp thời xưa, người Việt không thể không biết đến các bộ luật Hồng Đức, luật Gia Long mà thực ra những bộ luật này cũng đều tham chước các triều đại Trung Hoa mà thành. Gần như mọi tên gọi và tổ chức các loại luật lệ – thậm chí đến cả quan niệm và tiêu chí của từng cấp – cũng đều rập theo Trung Hoa.

Tương tự như thế, nếu đi sâu một chút các điển chương của ta cũng có những tham khảo sâu rộng từ qui luật hành chánh và luật lệ của phương bắc mà triều đại quân chủ gần gũi nhất của nước ta là triều Nguyễn thì áp dụng gần như toàn bộ.

Như cổ nhân đã dạy, dịch một văn bản để tham khảo cũng là một khoá học cho chính mình. Cũng vì thế, khi dịch hai tài liệu Trung Hoa Cổ Đại Trứ Danh Sử Tịch [1] và Trung Hoa Pháp Chế Sử [2], chúng tôi quan niệm rằng thỉnh thoảng chúng ta cũng cần tạm dừng lại một thời gian để bổ sung kiến thức từ các tài liệu và việc dịch ra tiếng Việt là một phương thức tự học nhiều hứng thú và hiệu quả.

Trong tương lai gần, chúng tôi cũng sẽ dịch tiếp bộ Lục Bộ Thành Ngữ Chú Giải (Ch’ing Administrative Terms) [3] là bộ từ điển về những từ ngữ mà chúng ta rất thường gặp khi đọc cổ văn, nhất là tài liệu triều đình, nhưng ít ai có cơ hội tìm hiểu cho đến nơi đến chốn.

Dưới triều Tây Sơn, người quan tâm nghiên cứu nghi lễ của Trung Hoa ở Bắc Hà là hai danh nho Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chính những di sản mà cụ Phan từng tham bác và áp dụng đã gợi hứng cho con trai ông Phan Huy Chú soạn bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí làm nòng cốt cho các nghiệp vụ ngoại giao đời Nguyễn sơ. Qua những văn bản chúng ta còn tìm thấy trong Dụ Am Văn Tập hay Bang Giao Hảo Thoại, mỗi một văn bản nếu xem xét cho kỹ lưỡng thì đều là những án lệ ngoại giao quan trọng. Những gì nước ta trao đổi, đòi hỏi và biện luận với triều đình Trung Hoa đều có cơ sở bám sát với điển lệ Trung Hoa, tạo ra một thời kỳ đấu tranh bằng bút mực chưa từng có trong tương quan hai nước.

Do đó, có thể không ngoa khi nói rằng việc đối chiếu luật pháp, nghi lễ của Trung Hoa với nước ta để tìm ra những điểm tương đồng dị biệt cũng là điều mà chúng ta cần làm nếu muốn hiểu biết cho rốt ráo về giai đoạn này.

Giải trãi

Tấm hình chúng tôi sử dụng ở trên là tượng một linh vật tên là giải trãi, có đặc tính hễ thấy cái gì cong vạy thì đều húc đổ. Giải trãi nằm trong bài giảng chúng tôi được học trong môn Hình Luật thuộc chương trình năm thứ ba bậc đại học. Tượng con giải trãi này làm bằng đồng của điêu khắc gia Henry Mitchell thực hiện năm 1962, hiện trưng bày ngay trong sảnh đường của đại học Pennsylvania Law School. Tấm ảnh trích từ tác phẩm Law in Imperial China của hai tác giả Derk Bodde và Clarence Morris (Harvard University Press, 1967) thuộc bộ Harvard Studies in East Asian Law của trường đại học Harvard (USA).

Cũng nên biết thêm, trong các tường thuật lịch sử, có những chi tiết tưởng như không đáng nói tới nhưng một khi tìm hiểu thêm các định chế luật lệ, nhiều câu hỏi được nêu ra. Chúng ta vẫn nhắc tới ông cha anh em Tây Sơn bị bắt từ Nghệ An đưa vào Qui Nhơn nhưng không biết việc di cư ấy theo tiêu chuẩn nào, là trường hợp kẻ thắng trận lùa dân về đan xen vào những vùng đất thuộc quyền mình để củng cố lãnh thổ (trường hợp người Khmer đưa dân từ nơi khác về xây dựng Angkor Wat, người Xiêm bắt dân từ Vạn Tượng, Xiêng Mai về xây dựng kinh thành Bangkok …) hay chỉ áp dụng hình thức đày vào nơi lam sơn chướng khi những thành phần tù, hàng binh theo luật thời trung cổ. Trong cả hai trường hợp, những người bị đưa vào biên giới thường không mang theo vợ con nên sau khi ổn định, thường là họ sẽ lập gia đình với thổ dân tại đó. Trong trường hợp nêu trên, khi các vùng đất ở miền Trung vốn dĩ là đất của Chiêm Thành nên nhiều phần theo mẫu hệ – và đến đời con, đời cháu những người di cư đến cũng sẽ tan biến để trở thành dân bản xứ.

Ngược lại khi đọc những bản án mà vua Càn Long áp dụng cho nhóm cựu thần nhà Lê khi họ bị đày đi Tân Cương, Hắc Long Giang, Phụng Thiên … chúng ta biết rằng đây không phải là những hành vi trả thù mà là họ được xử theo luật lưu đầy, sung quân … và từ đó biết ai tội nặng hơn ai, góp phần vào việc giải mã lịch sử mà nếu không am tường dễ bị suy đoán chủ quan theo yêu ghét. Từ lý do ban đầu các cựu thần nhà Lê sau khi biết mình không còn vai trò gì nữa nên công khai đòi nhà Thanh yêu cầu Tây Sơn cắt một mảnh đất ở biên giới Quảng Tây – An Nam làm hương hoả thờ phụng tiền triều (giống như nhà Minh bắt nhà Lê cắt đất Cao Bình cho họ Mạc), họ đã bị xử rất nặng (tội đồ đi Tân Cương chỉ sau tử hình) cho thấy việc vua Càn Long quyết tâm chặn đứng bất cứ âm mưu hay ý định nào xâm phạm đến sự ổn định của triều đình Quang Trung.

Cũng đi vào chi tiết hơn, việc anh em vua Cảnh Thịnh (Bảo Hưng) bị vua Gia Long hành hình rõ ràng họ bị khép vào tội phản nghịch, chống lại triều đình là tội đứng đầu trong Thập Ác nên đã bị xử tứ mã phân thi, ngũ tượng phân thi là hình phạt theo luật Hồng Đức thời bấy giờ. Những tội chết không toàn thây ấy ngoài ý nghĩa trừng phạt còn ý nghĩa tâm linh vì theo Nho giáo, thân thể là cho cha mẹ ban cho nên chết không còn nguyên vẹn cũng đồng nghĩa với bất hiếu. Cũng xem những hình phạt (theo lời kể của những người chứng kiến) chúng ta cũng có thể hình dung mức độ và tội danh tuỳ từng người mà bị kết án, tuy cùng là tội phản nghịch nhưng tuỳ theo vai trò, cấp bậc mà có những bản án khác nhau.

Giáo sĩ Marchand (bị lăng trì) và giáo sĩ Borie (bị chém đầu) [4]

Những vụ án đời Nguyễn cũng cần soi rọi dưới lăng kính luật pháp khi xét các bản án Lê Văn Khôi, cố Marchand… khi đưa về kinh bị đóng cũi hay tù xa, nên trên hình thức cũng đã khác với những người chỉ bị đóng gông rồi đưa đi. Như hai bức hình trên, Marchand bị xích một vòng trên cổ và hai tay cho thấy ông bị đưa đi bằng tù xa, trong khi Borie chỉ bị đóng gông theo tội truyền bá yêu thư, yêu ngôn là bản án cho những người đi giảng đạo thời Minh Mạng. Những chi tiết nhỏ nhặt ấy nếu không được giải thích bằng luật pháp sẽ không thể thấu đáo cho đến nơi đến chốn.

Từ hình ảnh những thừa sai đạo Thiên Chúa tử vì đạo mà chúng ta có thể định được tội danh chứ không nhất thiết chỉ căn cứ vào những kết án của giáo hội mà cho rằng họ đã bị ngược đãi. Việc nghiên cứu các định chế thời xưa đôi khi cũng đem đến cho chúng ta những thú vị bất ngờ, chẳng hạn khi đọc truyện Chém Treo Ngành hay Chữ Người Tử Tù của Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời. Những hình ảnh ấy nếu được tường thuật theo những khung cảnh cách đây hơn 100 năm cũng mang lại cho chúng ta nhiều trăn trở.

Một truyện kể về ông đốc phủ Trần Bá Lộc khi đi xuống xã ấp đã chứng kiến một đứa trẻ chửi cha mắng mẹ. Ông truyền dọn cho đứa trẻ ấy một bữa ăn nhưng cố ý để đũa tráo đầu hầu xem trí tuệ của tội nhân nhỏ tuổi đó. Khi thấy đứa bé biết đổi lại đầu đũa cho đúng cách, ông cho rằng như vậy là nó đã có trí khôn, tội chửi mắng cha mẹ thuộc tội bất hiếu nên xử án tử hình. Nếu không biết qua về hình pháp thời xưa, chúng ta có thể coi ông đốc phủ Lộc quá tàn nhẫn nhưng đây cũng là một phép thử cho việc kết án thời xưa.

Vì thấy chưa cần đến trong việc nghiên cứu xã hội thời cổ, chúng tôi để riêng ra bốn chương cận đại không dùng trong bản dịch này bao gồm:

Chương XIV: Chế Độ Pháp Luật Của Chính Phủ Lâm Thời Nam Kinh (Tháng 1 – Tháng 3 năm 1912) [sau Cách Mạng Tân Hợi]

Chương XV: Chế Độ Pháp Luật Của Chính Phủ Bắc Dương (Năm 1912 — 1928) [chính phủ Quân Phiệt]

Chương XVI: Chế Độ Pháp Luật Của Chính Phủ Quốc Dân Nam Kinh (Năm 1927 – 1949) [chính phủ Dân Quốc]

Chương XVII: Chế Độ Pháp Luật Của Các Khu Vực Do chính quyền Mao Trạch Đông Kiểm Soát (Năm 1927 – 1949) [khu vực Cộng Sản kiểm soát]

Những chương này sẽ được đưa trở lại nếu có nhu cầu.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đối chiếu một số tội danh với các bộ luật của nước ta [5] để so sánh tương đồng với luật pháp Trung Hoa, vốn dĩ là những tài liệu được tham bác và dùng làm cơ sở để biên soạn hình luật. Những so sánh đó giúp chúng ta biết nhiều hơn về hệ thống xét xử thời xưa để thấy rằng nhiều luật lệ nước ta tiến bộ hơn Trung Hoa nhất là liên quan đến quyền thừa kế của phụ nữ.

Nguyễn Duy Chính
2-2026

TỔNG QUÁT VỀ LUẬT Á ĐÔNG

Để có một khái luận về luật pháp Trung Hoa, chúng tôi lược dịch thêm một đoạn trong Law in Imperial China của Derk Bodde và Clarence Morris (Harvard University Press, 1967) từ trang 78 đến trang 112.

Hình phạt ở Trung Hoa thay đổi theo từng thời kỳ, từng triều đại, từng khu vực nhưng đại để đến cuối đời Thanh thì tựu trung có năm loại, mỗi loại lại có nhiều cấp khác nhau. Tội nhẹ bị trừng phạt bằng đánh roi gọi là Xuy. Tội Xuy cũng chia thành hai cấp, một cấp đánh bằng roi tre, một cấp đánh trượng tức gậy (về sau đổi thành gậy tre, bản phẳng).

1.    Các mức độ hình phạt

Xuy (đánh bằng roi nhỏ) (5 cấp)

10 roi              (thực tế đánh 4 roi)

20 roi              5

30 roi              10

40 roi              15

50 roi              20

Trượng (đánh bằng roi lớn) (5 cấp)

60 gậy              (thực tế đánh 20 gậy)

70 gậy              25

80 gậy              30

90 gậy              35

100 gậy            40

Đồ (đày đi xa có thời hạn) tức đi đày làm công việc khổ sai chia thành 5 bậc và 3 bậc phụ

1 năm              và 60 trượng (thực tế 20)

1 ½ năm          và 70 trượng (25)

2 năm              và 80 trượng (30)

2 1 hay 2 năm và 90 trượng (35)

3 năm              và 100 trượng (40)

4 năm              và 100 trượng (40)      (tổng đồ)

5 năm              và 100 trượng (40)      (chuẩn đồ)

2 năm              hình phạt này được gọi là “thiên tỉ tỉ lưu giảm bán chuẩn đồ nhị niên” 遷徙比流減半准徒二年hay gọi tắt là “thiên tỉ chuẩn đồ” 遷徙准徒. Sở dĩ được giảm án vì tội nhân được chuyển đến một nơi xa chứ không bị trừng phạt tại địa phương. Thiên tỉ 遷徙là dời đi.

Lưu (đưa đi xa không có ngày về): chia thành hai loại gồm Lưu và Sung Quân

[Mỗi bậc kèm theo 100 (40) trượng bằng gậy nặng.] Tội nhân bị đày biệt xứ (luật gọi là thiên tỉ 遷徙)  ở khoảng cách ít nhất là 1.000 lý (khoảng 600 km) tính từ nơi bị cáo phạm tội.

1.         Đày ở khoảng cách 2,000 lý.

2.         Đày ở khoảng cách 2,500 lý.

3.         Đày ở khoảng cách 3,000 lý.

Sung quân 充軍 (đưa vào phục dịch trong quân ngũ): 5 bậc tiêu chuẩn cộng với 1 bậc bổ sung.

[Mỗi bậc kèm theo 100 (40) trượng bằng gậy nặng.]

1.         Phụ cận (附近): 2,000 lý.

2.         Cận biên (近邊): 2,500 lý.

3.         Biên viễn (邊遠): 3,000 lý.

4.         Cực biên (極邊): 4.000 lý.

5.         Yên chướng (煙瘴): 4.000 lý (tại vùng lam sơn chướng khí).

6.         Phát thiên (發遷): Tội nhân bị đưa đi phục dịch suốt đời như nô lệ tại các tiền đồn quân sự Mãn Châu, Tháp Đạt ở phía bắc Mãn Châu hoặc miền tây Tân Cương.

Tử (死): 2 bậc tiêu chuẩn cộng với 1 bậc bổ sung.

1a. Giảo (絞): Thắt cổ sau mùa thu (Giam hậu).

2a. Trảm (斬): Chém đầu sau mùa thu.

1b. Lập quyết (立决): Thắt cổ ngay lập tức.

2b. Trảm quyết (斬决): Chém đầu ngay lập tức.

3. Lăng trì (凌遲): Xẻo thịt cho đến chết.

2. Giam giữ và Tiền phạt

Trước khi thảo luận chi tiết các hình phạt trên, cần lưu ý rằng cả việc phạt tù (imprisonment) và phạt tiền (fining) đều không được công nhận chính thức như những hình phạt riêng biệt.

•          Về việc giam giữ: Việc bị giam trong ngục địa phương mà không đi kèm lao động khổ sai cần được phân biệt với hình phạt “Đồ” (khổ sai). Những phạm nhân có thể bị tạm giam trong thời gian dài (đôi khi nhiều năm) trước khi thi hành án cuối cùng, nhưng bản thân bản án của họ không bao giờ bao gồm “hình phạt tù”. Ngoại lệ duy nhất và rất hiếm là đối với phụ nữ, vì lý do giới tính, án đày hoặc tử hình (giam hậu) của họ có thể được giảm xuống thành tù chung thân hoặc có thời hạn tại địa phương.

•          Về phạt tiền (Chuộc tội): Phạt tiền là một hình thức thay thế cho các hình phạt chính thức hơn là một hình phạt độc lập. Nó được gọi chính xác hơn là “Chuộc tội” (Redemption). Việc chuộc tội được cho phép đối với một số đối tượng nhất định (phụ nữ, người từ 70 tuổi trở lên, trẻ em từ 15 tuổi trở xuống, quan chức, vợ của quan chức…) cho một số — không phải tất cả — tội danh. Tuy nhiên, việc chuộc tội không phải là tự động mà phải được cơ quan tư pháp cho phép.

Số tiền chuộc cho một trọng tội do phụ nữ hoặc người già gây ra đôi khi chỉ là 0,525 lạng bạc. Tuy nhiên, đối với các trường hợp ngộ sát hoặc vô ý gây thương tích, tiền chuộc trở thành một khoản bồi thường trả cho nạn nhân hoặc gia đình họ, vì vậy số tiền lớn hơn nhiều (ví dụ, ngộ sát là 12,42 lạng bạc).

3. Hình phạt Trượng (Roi nhẹ và nặng)

Việc đánh trượng được thực hiện vào mông — để trần đối với nam giới và mặc quần lót đối với nữ giới. Kể từ thời nhà Tùy (581-583), số lần đánh được tính theo đơn vị mười.

Tuy nhiên, sau khi người Mãn Thanh chinh phục Trung Hoa năm 1644, số lần đánh cho mỗi bậc đã được giảm đi một nửa (10 roi còn 5 roi, 20 roi còn 10 roi). Sau đó, con số này còn giảm thêm nữa (10 roi thực tế chỉ đánh 4 roi, 20 roi đánh 5 roi, 30 roi đánh 10 roi…).

Lý do thực sự cho việc giảm số roi không hẳn là lòng nhân từ “vượt lên trên luật pháp” như nhà Thanh tuyên bố, mà là do kích thước của gậy. Thời Hán, gậy làm bằng tre. Từ thời nhà Lương (502-556), gậy được thay thế bằng một loại gỗ đặc biệt gọi là Sở (楚) [6]. Đến thời Mãn Thanh, họ quay lại dùng tre nhưng với kích thước lớn hơn nhiều so với trước đây. Chính sự gia tăng về độ lớn và trọng lượng của gậy khiến việc giảm số lần đánh là cần thiết để phạm nhân không chết. [7]

4. Đồ (Khổ sai)

Nghĩa cơ bản của từ Đồ (徒) là “đi bộ”. Nó ám chỉ việc tội nhân phải đi bằng chân đến nơi lao động khổ sai. Hình phạt này bao gồm việc lao động nặng nhọc và buộc phải rời khỏi quê quán đến một vùng khác trong một số năm cố định.

Thời Minh tội nhân thường được gửi đến các xưởng sắt hoặc xưởng muối. Chỉ tiêu hàng ngày là đúc 3 cân (khoảng 2kg) sắt hoặc sản xuất muối (thông qua việc đun nấu) để có một trọng lượng tương đương (như trọng lượng sắt). Những người bị kết án khổ sai không bị gửi từ tỉnh của mình sang một tỉnh khác một cách tùy tiện mà mỗi tỉnh đều có một tỉnh cụ thể khác mà các tù nhân luôn được gửi đến đó. [8]

Hệ thống này tiếp tục trong thời kỳ đầu nhà Thanh cho đến năm 1725, khi các tù nhân không còn bị gửi đến các tỉnh bên ngoài nữa mà bị giữ lại trong tỉnh nơi họ bị kết án. Tại đó, họ được đưa vào làm việc tại các dịch trạm (tức các trạm chuyển công văn) của chính phủ hoặc nếu không có chỗ, họ sẽ làm việc tại các nha môn địa phương (tức các cơ quan hành chánh). Việc họ làm cụ thể loại công việc gì trong các cơ sở này hiện chưa được chỉ dẫn rõ ràng. [9]

Cực kỳ hiếm gặp, nhưng cần được giải thích nhiều hơn các hình phạt khổ sai trong năm bậc tiêu chuẩn, là các hình phạt bổ sung đặc biệt bao gồm: khổ sai toàn diện bốn năm, khổ sai được phê chuẩn (authorized penal servitude) năm năm, và “lưu đày giảm xuống còn hai năm khổ sai được phê chuẩn”. Cả ba hình phạt kỳ lạ này đều là những di sản từ thời nhà Minh chuyển sang nhà Thanh. Trong số các tội danh được liệt kê trong Đại Thanh Luật Lệ, chỉ có hai tội danh trong hai loại đầu tiên, và chỉ có năm tội danh chịu hình phạt thứ ba (xem phần 10, bảng). Trong số các vụ án được dịch trong cuốn sách này, hình phạt thứ nhất chỉ xuất hiện hai lần, hình phạt thứ hai không xuất hiện lần nào, và hình phạt thứ ba chỉ xuất hiện một lần.

Để hiểu nguồn gốc của hình phạt khổ sai toàn diện và khổ sai được phê chuẩn năm năm, chúng ta nên lưu ý rằng trong số nhiều tội danh có thể bị trừng phạt bằng lưu đày hoặc tử hình, có một số ít (15 tội danh thuộc nhóm lưu đày và 12 tội danh thuộc nhóm tử hình) được gọi là “tội hỗn tạp” (tạp phạm). Đây là những tội danh mà mặc dù về danh nghĩa có thể bị phạt lưu đày hoặc tử hình, nhưng trên thực tế và theo quy định của điều luật, chúng sẽ tự động được giảm xuống các mức án thấp hơn.

Trong số các hình phạt thấp hơn này, khổ sai được qui định thời hạn năm năm thay thế cho án tử hình đối với một số — không phải tất cả — các “tội hỗn tạp” mà án tử hình vốn là hình phạt danh nghĩa. Từ “được phê chuẩn” (chuẩn) trong tên gọi của hình phạt này thể hiện thực tế rằng hình thức khổ sai (không khác biệt với bất kỳ hình thức nào khác ngoại trừ thời hạn đặc biệt là năm năm) được thay thế “theo luật lệ cho phép” của án tử hình. Tương tự như vậy, hình phạt khổ sai được đặt ra thay thế cho án lưu đày đối với một số — không phải tất cả — các “tội hỗn tạp” tuy ý nghĩa của từ “toàn diện” (tổng) trong tên gọi này vẫn chưa rõ ràng.

Hình phạt thứ ba trong số các hình phạt kỳ lạ, “lưu đày giảm xuống còn hai năm khổ sai“, là một dạng hỗn hợp, bắt nguồn từ hình phạt lưu đày đời Minh, tức là lưu đày biệt xứ ở khoảng cách 1.000 dặm. Có vẻ như các nhà soạn luật cảm thấy một số tội danh thuộc diện lưu đày này không thực sự đáng phải chịu hình phạt nặng nề như vậy. Do đó, để giải quyết các tội danh này, một công thức đã được đưa ra, theo đó hình phạt này dù vẫn giữ từ “lưu đày” như một phần của tên gọi, nhưng trên thực tế đã được giảm xuống chỉ còn hai năm “khổ sai được chấp thuận” (được phê chuẩn vì cùng lý do đã nêu ở trên). Rõ ràng hình thức khổ sai này không có gì khác biệt so với một án khổ sai hai năm thông thường.

Thông tin về cả ba hình phạt đặc biệt này rất thưa thớt, rải rác và không hề dễ giải thích, cho dù tìm kiếm trong “Đại Thanh Luật Lệ”, “Thanh Luật Lược Giải”, hay bất kỳ đâu khác. [8]

5. Lưu đày chung thân

Lưu (流), ở đây được dịch là “lưu đày” hoặc đôi khi là “lưu đày chung thân” (để phân biệt rõ ràng với loại lưu đày khác được gọi là sung quân), nghĩa đen là “chảy” (như dòng sông). Từ nghĩa gốc này, từ này có thêm các nghĩa phái sinh là “phân tán, biến mất,” và vì vậy, trong bối cảnh pháp lý, nó có nghĩa là “đi vào nơi lưu đày” (biến mất khỏi gia đình và họ hàng của mình).

Tuy nhiên, như được sử dụng trong các bộ luật, từ này chỉ có một ý nghĩa hạn chế: đó là lưu đày từ tỉnh này sang tỉnh khác thay vì ra khỏi đất nước. Trong phần tiếp theo, dưới cái tên “trục xuất” (deportation), chúng ta mới gặp hình thức lưu đày thực sự đưa phạm nhân ra khỏi biên giới Trung Hoa.

Từ lưu đưa chúng ta đối mặt với một trong những giai đoạn sớm nhất của tư duy pháp lý Trung Hoa về huyền thoại bộ tộc Miêu đã tạo ra ngũ hình. Theo một phiên bản của huyền thoại đó, họ đã bị tiêu diệt vì làm như vậy; nhưng theo một phiên bản khác, họ chỉ bị đày đến góc Tây Bắc xa xôi của thế giới. Trường hợp lưu đày này không phải là trường hợp duy nhất trong tiền sử Trung Hoa. Ngược lại, chúng ta nghe nói về những “kẻ nổi loạn” cổ xưa khác, những người đã phạm những tội ác đến mức phải bị lưu đày ra ngoài thế giới có thể sinh sống được.

Mục đích và Tâm lý học đằng sau hình phạt

Một mục đích quan trọng của lưu đày tại Trung Hoa cũng như những nơi khác là để bảo vệ xã hội và trên thực tế đã tồn tại cho đến thế kỷ XX với tư cách là hình phạt nghiêm trọng nhất chỉ sau tử hình, cho thấy trong tâm thức người Trung Hoa là nỗi kinh hoàng trước ý tưởng bị tách biệt vĩnh viễn khỏi gia tộc và cộng đồng quê hương. Cảm xúc này dựa trên nền tảng tôn giáo: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chung của nhóm gia tộc và sự đồng nhất của cá nhân với các thành viên trong gia tộc cả người sống lẫn người chết. Tất nhiên, với sự mở rộng của nền văn minh Trung Hoa và sự tiếp xúc ngày càng tăng với các dân tộc bên ngoài, ý thức cổ xưa về sự đoàn kết gia tộc và cộng đồng này đã suy yếu. Tuy nhiên, các định chế pháp lý — đặc biệt là của Trung Hoa — vốn nổi tiếng là những người bảo tồn truyền thống. Hơn nữa, ngay cả trong những thế kỷ gần đây, với sự di cư của hàng triệu người Trung Hoa ra nước ngoài, truyền thống vẫn tồn tại rằng khi chết, thi thể của một người nên được đưa về quê hương để chôn cất cùng tổ tiên.

Khoảng cách và Hệ thống phân loại

Khi đã hiểu được thái độ này, việc mức độ nghiêm trọng của hình phạt lưu đày được đo bằng khoảng cách từ cộng đồng bản quán là điều hoàn toàn tự nhiên. Do đó, trong thời Thanh và các triều đại trước đó, ba mức độ lưu đày tiến triển qua các khoảng cách:

•          2,000 lý (khoảng 1000 km)

•          2,500 lý

•          3,000 lý

Tuy nhiên, đến thời Nhà Thanh, chúng ta có thể đặt câu hỏi liệu một người Trung Hoa trung bình có thực sự cảm thấy sự khác biệt đáng kể về vật chất giữa việc đi lưu đày ở khoảng cách 2,000 lý hay bị gửi thêm 250 km nữa đến khoảng cách 2,500 lý hay không. Nói tóm lại, toàn bộ hệ thống đã trở nên mang tính biểu tượng phần lớn.

Sự phức tạp nảy sinh vì cách tính khoảng cách cho các tỉnh khác nhau. Những khoảng cách này không chỉ dựa trên các thủ phủ của tỉnh làm điểm xuất phát mà cụ thể hơn là dựa trên từng phủ riêng lẻ trong mỗi tỉnh. Sự phức tạp có thể hình dung được khi chúng ta nhớ rằng trong thế kỷ XVIII có khoảng 180 phủ trong 18 tỉnh của Trung Hoa.

6. Sung quân

“Sung quân” nghĩa là “đưa vào quân ngũ”. Hình phạt này là một sự bổ sung cho hình phạt lưu đày thông thường (lưu). Theo truyền thống, sung quân được cho là một phát kiến của nhà Minh. Tuy nhiên, như Thẩm Gia Bản (沈家本Shen Jiaben) đã chứng minh trong một nghiên cứu chi tiết, ý tưởng đưa tội phạm vào phục vụ quân đội tại biên cương là một ý tưởng cổ xưa, đã được thực hành rải rác từ triều đại nhà Tần và nhà Hán trở đi.

Kết hợp hai bảng biểu này trong tâm trí, chúng ta buộc phải hình dung ra những toán tù nhân bị kết án đang di lý đến các nơi lưu đày trên hầu hết mọi nẻo đường của Trung Hoa.

Hệ thống sung quân (quân lưu) cũng nảy sinh những vấn đề khác. Ví dụ, nếu Quảng Đông là tỉnh mà các phạm nhân từ Bảo Định phủ phải được gửi đến khi bị kết án sung quân tại “vùng có chướng khí”, thì sẽ phải làm gì với những phạm nhân ở Quảng Đông, vốn đã là cư dân bản địa của “vùng có khí độc”, nhưng vẫn bị kết án hình thức sung quân này? Để tìm câu trả lời, chúng ta hãy xem xét Nam Hùng Châu, một trong bốn địa điểm ở Quảng Đông được chỉ định là vùng có chướng khí cho các phạm nhân từ Bảo Định. Bảng kê cho chúng ta biết rằng các phạm nhân từ Nam Hùng Châu, khi và nếu bị kết án đến vùng có khí độc, sẽ được gửi đến Vân Nam, nơi tuần phủ của tỉnh đó sẽ chỉ định họ đến một địa điểm cụ thể.

Những chi tiết kỹ thuật này, dù gây tò mò và đôi khi mang tính lỗi thời (ví dụ, hoàn toàn có khả năng một số vùng được liệt kê là “có chướng khí” đã không còn như vậy vào thế kỷ XIX), vẫn ít quan trọng hơn một phản đối cơ bản được đưa ra bởi Thẩm Gia Bản. Ông tuyên bố rằng những gì từng là sung quân thực sự trong thời nhà Minh, bất chấp tên gọi của nó, đã không còn mang tính chất quân sự trong thời nhà Thanh. Thẩm Gia Bản, người đánh giá rất thấp về hệ thống sung quân thời Thanh, đã tóm tắt những khác biệt giữa hệ thống thời Minh và Thanh như sau:

1.         Sung quân thời Minh có nghĩa là đến các đồn trú quân sự thực sự, nhưng những đồn trú này đã biến mất trong thời Thanh, khiến hình phạt này không còn khác biệt đáng kể so với lưu đày thông thường.

2.         Sung quân thời Minh, ít nhất là vào thời kỳ đầu, chủ yếu dành cho quân nhân, trong khi đến thời Thanh, bất kỳ ai cũng có thể bị kết án sung quân.

3.         Các mức độ khác nhau của sung quân vẫn còn mơ hồ và thay đổi trong thời Minh, không liên quan rõ ràng đến các khoảng cách cố định; trong thời Thanh, chúng được giảm xuống còn năm mức độ, vào năm 1725, đã được liên kết với các khoảng cách cố định.

Thẩm Gia Bản sau đó tiếp tục chỉ ra những điểm mâu thuẫn trong hệ thống nhà Thanh: Mặc dù sung quân bề ngoài là một hình phạt nặng hơn lưu đày thông thường, nhưng ba mức độ đầu tiên của nó lại giống hệt về khoảng cách (2,000, 2,500 và 3,000 dặm) so với ba mức độ của lưu đày, điều này có nghĩa là hai mức độ đầu tiên của nó thực tế lại ngắn hơn mức độ thứ ba của lưu đày thông thường. Ngoài ra, các tù nhân sung quân, bất chấp tên gọi, vẫn nằm dưới quyền quản lý của chính quyền dân sự địa phương (không phải quân sự), giống như các phạm nhân lưu đày thông thường, và được hưởng quyền tự do đi lại tương đương.

Kết luận, chúng ta nên tự nhắc nhở mình một lần nữa rằng cả sung quân và lưu đày thông thường đều không có nghĩa gì hơn là việc chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác trong phạm vi Trung Hoa bản thổ. Hình thức lưu đày thực sự duy nhất, theo nghĩa là đi ra ngoài biên giới quốc gia, là phát khiển (fa ch’ien) hay trục xuất. Trục xuất, rõ ràng là một trong số rất ít những bổ sung của nhà Thanh vào di sản hình pháp từ thời Minh, được người Mãn Châu đặt ra như một hình phạt cao hơn bất kỳ hình phạt nào khác, chỉ đứng sau cái chết. Nó bao gồm việc nô lệ suốt đời để phục vụ các quân nhân thuộc quân bát kỳ Mãn Châu và các đơn vị đồn trú không phải người Hán khác đóng tại miền bắc Mãn Châu (chủ yếu dọc theo sông Amur) hoặc ở phần phía tây của Tân Cương (Hồi Cương), đặc biệt là Y Lê.

Tuy nhiên những người bị trục xuất đến các khu vực này gây ra cho các cơ quan quân sự chịu trách nhiệm giám sát họ nhiều khó khăn. Trong giai đoạn đầu của Thanh triều, những người bị trục xuất như vậy chỉ được gửi đến Mãn Châu; đến họ chinh phục được các vùng phía tây của Tân Cương vào thế kỷ XVIII, thì họ cũng được gửi đến đó; nhưng khi các cuộc nổi dậy của người Hồi giáo bùng nổ vào khoảng giữa thế kỷ XIX, Tân Cương bị phong tỏa và những người bị trục xuất lại chỉ được gửi đến Mãn Châu cho đến khi các cuộc nổi dậy bị đánh dẹp.

7. Các Hình Phạt Tử Hình

Kể từ thời Luật Tùy (581-583), các hình phạt tử hình tiêu chuẩn, theo thứ tự mức độ nghiêm trọng tăng dần, là thắt cổ (giảo) và chém đầu (trảm). Mô tả quy trình thắt cổ, Alabaster thuật lại:

Đao phủ vật nạn nhân nằm sấp xuống, sau đó ngồi cưỡi lên lưng nạn nhân và vặn một sợi dây quanh cổ; sau đó, nhanh nhất có thể — dù thực tế là chậm — hắn siết cổ nạn nhân. Nếu đao phủ không lành nghề, trải nghiệm này chắc chắn sẽ tồi tệ hơn cả việc treo cổ kéo dài, dù việc đó vốn đã tệ rồi.”

Tuy nhiên, như có thể thấy từ văn bản và hình minh họa trong cuốn Nghiên cứu Lịch sử Pháp luật Trung Hoa của Niida Noboru, kỹ thuật này chỉ là một trong số vài cách. Trong số các hình minh họa này, một bức được sao chép từ bản khắc gỗ Trung Hoa cho thấy nạn nhân bị trói vào một cái cột, bị đao phủ đứng phía sau siết cổ; trong một bức khác, hai đao phủ đứng hai bên nạn nhân bị trói chặt, họ siết cổ nạn nhân bằng cách vặn sợi dây thòng lọng quanh cổ nạn nhân theo hai hướng ngược nhau.

Về quy trình chém đầu, Alabaster cho biết:

Tội phạm không đặt đầu lên một tấm thớt để bị chặt bằng rìu, mà được đặt quỳ với hai tay bị trói sau lưng. Một phụ tá giữ nạn nhân ở vị trí cố định bằng sợi dây trói tay, một người khác kéo đầu nạn nhân về phía trước [túm lấy bím tóc cho mục đích này], và chỉ với một nhát kiếm, đao phủ vung lên chém đứt đầu.”

Chém đầu và thắt cổ
Nguồn: The World as it was [10]

Mặc dù thắt cổ là một cái chết chậm hơn và đau đớn hơn so với chém đầu, nhưng nó luôn được coi là hình phạt nhẹ hơn vì các lý do tín ngưỡng hay xã hội: Theo các nguyên tắc về lòng hiếu thảo của Trung Hoa, thân thể của một người không phải là tài sản của riêng họ, mà là một di sản từ cha mẹ. Do đó, làm biến dạng cơ thể hoặc để nó bị biến dạng là bất hiếu. Thắt cổ, từ quan điểm này, ưu việt hơn chém đầu vì nó giữ cho cơ thể được nguyên vẹn. Hơn nữa, theo cùng một lối suy nghĩ, thắt cổ tốt hơn vì nó để lại cho linh hồn của người bị hành hình một cơ thể đầy đủ để có thể trú ngụ. [11]

Chúng ta cũng thấy rằng thắt cổ và chém đầu được chia thành hai loại: “lập tức” (trảm hay giảo lập quyết) và “sau kỳ mùa thu” (trảm hay giảo giam hậu). Như chi tiết sau này, “Lập tức” có nghĩa là bản án chắc chắn sẽ được thực thi, trong khi án để đến “sau kỳ mùa thu” có nghĩa là bản án sẽ được xem xét lại tại kỳ xét xử tại Bắc Kinh vào đầu mùa thu, nơi có khả năng giảm án đáng kể, ngay lập tức hoặc sau đó, từ tử hình xuống một số hình phạt nhẹ hơn (thường là lưu đày vĩnh viễn hoặc sung quân).

Bên cạnh những hình thức tử hình tiêu chuẩn này, còn có một hình thức khác, khốc liệt nhất, vốn không có từ thời cổ đại. Đó là lăng trì (ling ch’ih) hay “chết bằng cách cắt từng miếng“, đôi khi được gọi trong các tác phẩm phương Tây là “cái chết kéo dài.” Hình phạt này dành cho tội phản quốc và một số ít các tội ác ghê tởm khác như giết cha mẹ (đại nghịch), cắt xẻ một người đang sống vì mục đích phù thủy, giết ba người trở lên trong cùng một gia đình, và các tội danh gọi chung là “Thập Ác”.

Theo lời của Alabaster:

Ở đây, kẻ phạm tội bị trói vào một cái giá gỗ, và bằng một loạt các nhát cắt đau đớn nhưng chưa gây ra tử vong, cơ thể phạm nhân bị xẻ thịt đến mức không thể nhận dạng… Hình phạt này… không được thi hành như một hình thức tra tấn, mà là để hủy hoại tương lai cũng như cuộc sống hiện tại của kẻ phạm tội — hắn không xứng đáng để tồn tại lâu hơn như một con người hay một linh hồn có thể nhận diện… Một khi các linh hồn hiện hình dưới hình dạng xác thịt khi chưa chết, hắn chỉ có thể xuất hiện như một tập hợp của những mảnh nhỏ. Đó không phải là một cái chết kéo dài, vì tất cả kết thúc trong vài giây, và nhát chém ân huệ thường được đưa ra ở nhát thứ ba… Tóm lại, mặc dù hình phạt này khắc nghiệt và gây ghê tởm, nó không đau đớn bằng các hình thức treo cổ, mổ bụng và phân thây thành bốn phần từng được thực hiện ở Anh cách đây không lâu.”

Thẩm Gia Bản nhận xét rằng các bộ luật không mô tả quy trình lăng trì, vốn là một kỹ thuật bí truyền được truyền thụ riêng lẻ bởi mỗi đao phủ. Do đó, ông nói, ngay cả giữa các thành phố gần nhau như Bắc Kinh và Bảo Định phủ cũng có thể tìm thấy những khác biệt nhỏ. Tuy nhiên, nói chung, đao phủ thực hiện “tám nhát” (bát đao) lên nạn nhân, nghĩa là hắn thực hiện các nhát cắt liên tiếp lên mặt, hai tay, hai chân, ngực và bụng, với nhát cắt cuối cùng là chém đầu.

Từ miêu tả đầy đủ hơn của Niida Noboru, dường như nhận xét của Thẩm Gia Bản chỉ bao gồm những yếu tố cơ bản nhất của chủ đề này. Theo Niida, các nhát cắt mà nạn nhân phải chịu có thể lên đến 24, 36, 72, hoặc thậm chí là 120 nhát. Trong số các bản sao của Niida về một vài bức khắc gỗ đẫm máu, một bức cho thấy nạn nhân bị trói vào một cây thập giá, với ba chi đã nằm trên mặt đất và đao phủ đang nỗ lực cắt rời chi thứ tư. Đặc biệt khét tiếng là vụ hành hình thái giám nhà Minh là Lưu Cẩn năm 1510, để xử tội  những mưu đồ chính trị tàn bạo của người này. Theo Niida, cơ thể của vị thái giám này đã bị xẻ không dưới 4,700 nhát, mỗi nhát cắt đi kèm với một cú vụt roi.

Có vẻ như hình phạt lăng trì được du nhập từ “bên ngoài” vào Trung Hoa, vì những tài liệu sớm nhất có liên quan đến một bộ tộc thuộc chủng tộc Tungus (tổ tiên xa xôi của người Mãn Châu), những người dưới tên hiệu vương triều là Liêu, đã cai trị các phần của miền Bắc Trung Hoa từ năm 907 đến 1123. Lịch sử vương triều của nhà Liêu, bắt đầu từ năm 912, ghi lại ít nhất sáu trường hợp quân nổi dậy chống lại sự cai trị của nhà Liêu (bản thân họ là thành viên của nhà Liêu) đã phải chịu hình phạt lăng trì. Từ nhà Liêu, hình phạt này sau đó rõ ràng đã được truyền sang đế chế nhà Tống đương thời ở phương nam, nơi các tài liệu tham khảo về nó xuất hiện vào các năm 1028, 1075 và muộn hơn. Mặc dù nó được sử dụng rải rác trong thời nhà Tống như một hình phạt ngoài luật pháp án tử hình bằng cách lăng trì (xẻ thịt) chỉ đạt được địa vị pháp lý chính thức trong các bộ luật nhà Nguyên và nhà Minh, từ đó được chuyển sang bộ luật nhà Thanh.

Về mặt ngôn ngữ lăng trì là một thuật ngữ liên hệ với người Khiết Đan (Liêu) cho thấy được vay mượn từ tiếng Khiết Đan. Mặc dù Thẩm Gia Bản, trong nghiên cứu đã dẫn, cố gắng liên kết thuật ngữ này với một từ lăng trì cổ (trong đó từ lăng được viết bằng một ký tự hơi khác), nhưng nỗ lực của ông không mang tính thuyết phục.

(còn nữa)

Nguyễn Duy Chính dịch

………………….

Chú thích:

[1] Tất Tố Quyên, Hùng Quốc Trinh biên soạn. Đài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1993.

[2] Trần Thu Vân, Trương Bình chủ biên, Nxb Trung Hoa Pháp Chế, 1999.

[3] Nhiệm Dĩ Đô (E-tu Zen Sun) dịch và chú giải, Harvard University Press, 1961.

[4] Hình trích từ Iconographie Historique de l’Indochine Française của Paul Boudet và André Masson. Paris: Les Éditions G. Van Oest, 1931(Pl. 28 và 29)

[5] Nguyễn, Q. Thắng và Nguyễn Văn Tài. Lê Triều Hình Luật (Luật Hình Triều Lê). Hà Nội: nxb Văn Hoá Thông Tin, 1998; Nguyễn, Văn Thành, Vũ Trinh, Trần Hựu (soạn) Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Văn Tài (dịch) Hoàng Việt Luật Lệ (Luật Gia Long). (toàn bộ 5 quyển) Hà Nội: Văn Hoá-Thông Tin, 1994.

[6] Một loại cây có gai.

[7] Về vật liệu và kích thước của các cây roi này thì thay đổi từng thời kỳ (Xem Shen Chia-pen, Hsing-chu k’ao tr. 23b trong Bequeathed Writings, tr. 519).

[8] Xem Đại Minh Hội Điển (Taipei, 1963) tr. 61.

[9] Đại Thanh Hội Điển Sự Lệ (Taipei, 1963) tr. 741.

[10] Margarett Loke, The World as it was – A photographic Portrait from the Keystone-Mast Collection – 1865-1921. New York: Summit Books, 1980

[11] Tương tự như những hoạn quan giữ gìn rất kỹ bộ phận sinh dục đã bị cắt ra để chôn cùng với thi hài sau khi chết.

Có thể bạn cũng quan tâm

Website này sử dụng cookie để mang lại trải nghiệm tốt nhất cho bạn. Bằng cách nhấn 'Đồng ý', bạn chấp thuận việc sử dụng cookie theo Chính sách quyền riêng tư của chúng tôi. Đồng ý Xem chính sách quyền riêng tư

Secret Link